Bản án về tội cố ý gây thương tích số 50/2021/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

 BẢN ÁN 50/2021/HS-PT NGÀY 30/09/2021 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

 Trong ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2021/HSPT ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo Chau Sóc K. và đồng phạm do có kháng cáo của các bị hại anh Chau Ma N. và ông Chau Sóc R. đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T.:

Các bị cáo bị kháng cáo:

1. Chau Sóc K., sinh ngày 06/01/1987 tại huyện T., tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau Đ., sinh năm 1952 và bà Neáng Kim S., sinh năm 1961; vợ là Néang N., sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/02/2021 cho đến ngày 23/7/2021 được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2. Chau C., sinh ngày 01/01/1995 tại huyện T., tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp An Thuận, xã C., huyện T., tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau C1., sinh năm 1960 và bà Neáng Thị D., sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ con;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/02/2021 cho đến ngày 23/7/2021 được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Chau C.: Bà Văng Thị V., trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh An Giang (Có mặt).

Người bị hại:

- Anh Chau Ma N., sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang (Có mặt).

- Ông Chau Sóc R., sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang (Có mặt).

Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị P. – Biên dịch viên tiếng Khmer Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh An Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 14/02/2021, Chau C. điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95B1- 049.25 đến nhà của ông Chau Đ. (cha của Chau Sóc K.) thuộc ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang để uống bia cùng Chau Sóc K., Chau Kh., Chau Sa N1., Chau T., Chau N2, uống được một lúc thì Chau C. ra về. Khi C. đi đến chỗ đậu xe phía trước nhà ông Chau Đ. thì nhìn thấy Chau Ma N. đang đứng ở nhà ông Chau S. (ông nội Chau Ma N.) cách C. khoảng 15m, tay cầm dao yếm quơ về phía C.. Thấy vậy, C. quay lại thông tin cho Chau Sóc K. biết sự việc, nghe vậy K. cầm một khúc cây vuông, dài 95,5cm cùng C. đi đến chỗ Ma N. đang đứng. Khi nhìn thấy K. và C., Ma N. cầm cây dao yếm chém về phía K. 01 cái nhưng không trúng, C. liền nhặt 01 viên gạch bị vỡ, loại gạch ống 04 lỗ, ném trúng vùng đầu của Ma N. gây thương tích.

Một lúc sau, biết được sự việc Ma N. bị đánh, ông Chau Sóc R. (cha của Ma N.) cùng người thân của Ma N. dùng đất, đá ném vào nhà ông Chau Đ. làm hư hỏng tủ kính và nhiều vật dụng, Ma N. thì dùng đá ném bể phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 95B1- 049.25 của C.. Riêng ông Chau Sóc R. đi đến trước cửa nhà ông Đ. thì bị K. cầm khúc cây gỗ dài 1,02m, đứng đối diện với Sóc R., dùng hai tay cầm cây đánh từ trên xuống trúng vào vùng đầu của Sóc R. gây thương tích.

Sau khi gây thương tích, K. và C. bỏ trốn, Chau Sóc R. và Chau Ma N. được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu, điều trị. Ngày 16/02/2021, C. và K. đến Công an xã C. đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho Ma N. và Sóc R..

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 59 ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, ghi nhận: Chau Ma N., sinh năm 1997, địa chỉ: ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang.

- Sẹo trán đính từ phải qua trái kích thước 09 x 0.2cm, màu hồng, phẳng, bờ không đều: 02%;

- Sẹo mở trán trái (đầu cung mày) kích thước 1.4 x 0.1, màu hồng, bờ không đều: 01%;

- Sẹo má trái kích thước 03 x 0.3cm, hơi lõm: 03%, sây sát da nông để lại mảng biến đổi sắc tố da má trái kích thước 2.5 x 0.4 cm: 01%;

- Sẹo mặt sau 1/3 giữa cánh tay phải kích thước 04 x 0.5cm: 01%;

- Vết bầm vai trái không tồn tại thương tích: 00%;

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 58 ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, ghi nhận: Chau Sóc R., sinh năm 1972, địa chỉ: ấp P., xã C., huyện T., tỉnh An Giang.

- Sẹo dọc đính trái kích thước 9.5 x 0.3cm, màu hồng, phẳng, bờ không thẳng, không sắc;

- Sẹo đính trái hình chữ L kích thước 02 x 0.2cm + 1.5 x 0.2cm, màu hồng, phẳng, bở không thẳng, nham nhỡ;

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 05%.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG-TTHS ngày 19/3/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, xác định: 01 (một) cụm đồng hồ tốc độ đèn chiếu sáng phía trước xe Wave Trung Quốc trị giá 750.000 đồng; 01 ốp nhựa phía trước đầu xe mô tô trị giá 150.000 đồng. Tống giá trị: 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2021/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T. đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt:

- Chau Sóc K. 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án 23/7/2021.

- Chau C. 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án 23/7/2021.

Công nhận sự tự nguyện, buộc bị cáo Chau C. có trách nhiệm bồi thường cho anh Chau Ma N. số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả 6.000.000 đồng, còn phải bồi thường thêm số tiền 4.000.000 đồng.

Bị cáo Chau Sóc K. có trách nhiệm bồi thường cho ông Chau Sóc R. số tiền 22.254.578 đồng. Bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả 6.000.000 đồng, còn phải bồi thường thêm số tiền 16.254.578 đồng.

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Chau Sóc K. phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.112.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cộng chung tiền án phí mà bị cáo phỉ chịu là 1.312.700 đồng.

Bị cáo Chau C. phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cộng chung tiền án phí mà bị cáo phỉ chịu là 700.000 đồng Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần xử vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo, ngày 26 tháng 7 năm 2021 các bị hại anh Chau Ma N. và ông Chau Sóc R. kháng cáo yêu cầu tăng tiền bồi thường và không đồng ý cho các bị cáo được hưởng án treo, yêu cầu xử phạt tù đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bị hại anh Chau Ma N. rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, anh đồng ý với các quyết định của án sơ thẩm đã tuyên.

Bị hại ông Chau Sóc R. rút lại yêu cầu kháng cáo về phần hình phạt đối với bị cáo; còn về phần tăng tiền bồi thường thiệt hại, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ông yêu cầu bị cáo phải bồi thường tất cả chi phí điều trị mà ông đã chi trả để điều trị vết thương.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Các bị hại anh Chau Ma N. và ông Chau Sóc R. kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về phần tội danh và hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét. Tại phiên tòa hôm nay, về phần hình phạt do các bị hại đã rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần này.

- Về phần trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại Chau Ma N. đã rút kháng cáo nên không đề cập. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Chau Sóc R., án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các khoản, tuy nhiên án sơ thẩm không tính chi phí mất thu nhập của người nuôi bệnh cho ông Chau Sóc R. trong thời gian ông nằm viện và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Chau Sóc R. về phần trách nhiệm dân sự.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Chau Sóc R. về phần bồi thường thiệt hại, buộc bị cáo Chau Sóc K. có trách nhiệm bồi thường thêm cho ông Chau Sóc R. khoản tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh với số tiền là (10 ngày x 300.000 đồng/ngày) và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm từ 02 – 05 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Bà Văng Thị V. là người bào chữa cho bị cáo Chau C. có ý kiến: Tại phiên tòa, người bị hại Chau Ma N. đã rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo đối với bị cáo Chau C.. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên phần hình phạt cũng như số tiền bồi thường mà án sơ thẩm đã tuyên buộc đối với bị cáo Chau C..

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các bị hại anh Chau Ma N. và ông Chau Sóc R. kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Người bị hại Chau Ma N. đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo và bị hại Chau Sóc R. đã rút lại phần kháng cáo về hình phạt đối với bị cáo Chau Sóc K.. Xét đây là sự tự nguyện, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu này và không đề cập xem xét.

[3] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Do có mâu thuẫn từ trước nên khi nhìn thấy Chau Ma N. cầm dao yếm quơ về phía mình, Chau C. đã nói cho Chau Sóc K. biết, dẫn đến cả hai cự cãi rồi cuối cùng bị cáo Chau Sóc K. đã có hành vi dùng khúc gỗ đánh gây thương tích cho ông Chau Sóc R. với tỷ lệ thương tật 5% và bị cáo Chau C. đã dùng cục gạch ném gây thương tích cho anh Chau Ma N. với tỷ lệ thương tật là 2%. Căn cứ quy định của pháp luật, hành vi của các bị cáo Chau Sóc K. và bị cáo Chau C. đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh này theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị hại Chau Sóc R. về phần trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Cấp sơ thẩm xem xét và chiết tính các khoản bồi thường cho bị hại Chau Sóc R. như: chi phí hợp lý cho việc điều trị; tiền xe chuyển viện, tái khám; tiền mất thu nhập trong những ngày nằm viện và những ngày dưỡng bệnh với tổng số tiền là 22.254.578 đồng(1).

Các khoản bồi thường này cơ bản đã đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên khi xem xét, cấp sơ thẩm không tính tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh trong thời gian ông R.điều trị tại bệnh viện và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 là thiếu sót, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại. Do vậy, kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường của ông Chau Sóc R. được Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể:

- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là 10 ngày với mức 300.000 đồng/ngày: 10 ngày x 300.000 đồng = 3.000.000 đồng (2) 

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm tương đương 05 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy tại thời điểm xét xử: 05 tháng x 1.490.000 đồng = 7.450.000 đồng (3) 

Tổng cộng các khoản: (1) + (2) + (3) = 22.254.578 đồng + 3.000.000 đồng + 7.450.000 đồng = 32.704.578 đồng.

Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo Chau Sóc K. đã nộp tiền khắc phục hậu quả cho bị hại 6.000.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo Chau Sóc K. có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại Chau Sóc R. số tiền 26.704.578 đồng.

[4] Về án phí:

[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

Theo điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, các bị cáo Chau C., Chau Sóc R. - mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại 6.000.000 đồng trước khi mở phiên tòa thì các bị cáo không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền này. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã buộc các bị cáo phải chịu án phí do đó cần phải điều chỉnh lại phần án phí dân sự và Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong trường hợp này. Như vậy:

- Bị cáo Chau C. phải chịu án phí đối với số tiền 4.000.000 đồng còn phải bồi thường thêm cho bị hại Chau Ma N..

- Bị cáo Chau Sóc K. phải chịu án phí đối với số tiền 26.704.578 đồng còn phải bồi thường thêm cho bị hại Chau Sóc R..

[4.2] Án phí phúc thẩm: Các bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Chau Sóc R.. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của anh Chau Ma N. về phần hình phạt và phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Chau C..

Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của ông Chau Sóc R. về phần hình phạt đối với bị cáo Chau Sóc K..

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Chau Sóc K. 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/7/2021).

Xử phạt: Bị cáo Chau C. 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/7/2021).

Giao các bị cáo Chau Sóc K., Chau C. cho Ủy ban nhân dân xã C., huyện T., tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Chau C., buộc bị cáo Chau C. có trách nhiệm bồi thường cho anh Chau Ma N. số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo Chau C. đã nộp khắc phục hậu quả 6.000.000 đồng, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Chau Ma N. số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Buộc bị cáo Chau Sóc K. có trách nhiệm bồi thường cho ông Chau Sóc R. số tiền 32.704.578 đồng. Bị cáo Chau Sóc K. đã nộp khắc phục hậu quả 6.000.000 đồng, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho ông Chau Sóc R. số tiền 26.704.578 đồng (hai mươi sáu triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn năm trăm bảy mươi tám đồng).

Anh Chau Ma N. được nhận số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) do bị cáo Chau C. đã nộp và ông Chau Sóc R. được nhận số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) do bị cáo Chau Sóc K. đã nộp, hiện số tiền này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. đang quản lý (Theo Giấy ủy nhiệm chi số 31 ngày 31/5/2021 của Công an huyện T. chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bô luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Bị cáo Chau Sóc K. phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.335.229 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 1.535.229 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn hai trăm hai mươi chín đồng).

Bị cáo Chau C. phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).

Các bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.


29
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 50/2021/HS-PT

Số hiệu:50/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về