Bản án về tội cố ý gây thương tích số 45/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 45/2023/HS-PT NGÀY 21/07/2023 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 21 - 7 - 2023, tại Phòng xét xử số 2, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Phúc C do có kháng cáo của bị cáo và của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN PHÚC C sinh năm: 1994, tại Ninh Thuận. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Nguyễn Phúc T và bà Phạm Thị H; Vợ là Nguyễn Thị Kim H1 và 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân:

+ Tại bản án phúc thẩm số 63/2013/HS-PT ngày 26/8/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp tài sản"; Chấp hành xong ngày 24/01/2014.

- Ngày 20/4/2023 bị Công an huyện N khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 21/3/2023 (chưa xét xử).

Tạm giữ: Không; Tạm giam: 6/10/2022.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Công an huyện N.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Hồ Minh N, sinh năm: 1980. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có kháng cáo nhưng có liên quan đến kháng cáo của bị hại: ông Nguyễn Phúc T, sinh năm: 1965.

Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Phạm Thị H, Nguyễn Thị Kim H1) không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 22 tháng 6 năm 2022, nghe tin ông Nguyễn Phúc T đang đắp hàng rào lấn chiếm đất rẫy, bà Nguyễn Thị Ánh N1 có nhờ Hồ Minh N chở đến rẫy để nói chuyện với ông T.

Đến nơi thấy ông T cùng với 03 người đang làm công cho ông T là Mang Nắm, Mang Đài, M, đang chặt cây đắp hàng rào nên chị N1 đã cãi nhau với ông T. Lúc này, ông N đi đến nói với các ông N2, Đ, Đ1 là“Đất này người ta đang tranh chấp, mấy anh em nghỉ đi" thì ông T quay sang cải nhau với N. Ông T đi đến đứng đối diện và dùng tay đánh vào mặt ông N, ông N đưa tay lên đỡ thì hai người giằng co đánh nhau và ngã xuống ôm vật lộn dưới đất.

Vừa lúc đó Nguyễn Phúc C (con trai ông T) điều khiển xe máy cày đến. Thấy ông T và ông N đang vật lộn dưới đất thì C đã lấy cây rựa trên xe máy cày chạy đến chỗ ông T-ông N đang vật lộn, C kéo ông N ra, tay cầm cây rựa chém về phía ông N nhưng không trúng. Thấy C cầm cây rựa đánh ông N nên ông T lao vào giật lấy cây rựa, C tiếp tục dùng tay trái túm cổ áo còn tay phải đấm liên tiếp 3-4 cái vào mặt ông N làm ông N ngã xuống đất. Sau đó C ngồi đè lên bụng ông N và dùng tay đấm liên tiếp vào mặt của ông N. Tiếp đó, C quay ra nhặt một cục đá ở bên cạnh định đánh ông N thì ông T và bà N1 lao đến can ngăn thì C mới ngừng đánh ông N.

Ông N được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để cấp cứu, và chuyển đến Bệnh viện C2 tiếp tục điều trị; đến ngày 01/7/2022 được xuất viện.

Tại bản Kết luận số 177 ngày 30/8/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N kết luận:

- Vết thương mi trên mắt phải phía trong sẹo liền tốt phẳng kích thước (1x0,1)cm. (03%).

- Vùng gò má phải hết sưng nề, không phát hiện dấu tích, gò má cân đối. (00%).

- Vùng sống mũi hết sưng nề không phát hiện dấu tích, sống mũi gãy vẹo trái, hai lỗ mũi khô thông thoáng. (00%).

- Vùng ngực phải không phát hiện dấu tích, ngực hai bên cân đối. (00%), - X quang: Gãy sụp xương chính mũi can xấu. (07%).

- Chuyên khoa mắt: Thị lực: Mắt phải: Sáng tối (-) mù. (41%). Cơ chế hình thành vết thương: do vật tày tác động tạo nên.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 47% .

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 cây rựa có chiều dài 119cm; cán bằng gỗ tròn dài 89,5cm, đường kính 2,7cm; lưỡi bằng kim loại dài 29,5cm, vị trí rộng nhất là 4,3cm, lưỡi bị mẻ một phần có kích thước (7,5x1,2)cm, dấu vết mẻ đã cũ là hung khí của Nguyễn Phúc C sử dụng để đánh ông Hồ Minh N.

Cơ quan điều tra Công an huyện N chuyển Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phúc T theo thẩm quyền về hành vi đánh nhau.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc C 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 06/10/2022).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

* Phần kháng cáo:

- Ngày 05/5/2023, bị cáo Nguyễn Phúc C có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: bồi thường khắc phục hậu quả 10.000.000đ.

- Ngày 08/5/2023, bị hại Hồ Minh N có kháng cáo:

+ Tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phúc C;

+ Xác định vai trò đồng phạm của Nguyễn Phúc T và buộc Nguyễn Phúc T liên đới bồi thường thiệt hại dân sự;

Ngày 22/5/2023, bị hại Hồ Minh N kháng cáo bổ sung, yêu cầu: hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, bị hại giữ nguyên kháng cáo;

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc C, bị hại Hồ Minh N là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Nguyễn Phúc C dùng rựa đánh Hồ Minh N nhưng không trúng, sau đó dùng tay đánh bị hại gây thương tích 47%. Kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ.

Kháng cáo bị hại: anh T là người can ngăn, ông T không có bàn bạc với bị cáo, kháng cáo của bị hại không có căn cứ, kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo C là không phù hợp.

Đề nghị HĐXX phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, tuyên xử: không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo: bị cáo Nguyễn Phúc C, bị hại Hồ Minh N kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng của ông Nguyễn Phúc T:

Trong vụ án này, ông Nguyễn Phúc T chỉ bị thương tích nhẹ do có ôm vật, đánh nhau với Hồ Minh N. Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với ông T nên ông Nguyễn Phúc T tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phúc C khai nhận hành vi phạm tội của mình, có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 15 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2022, Nguyễn Phúc C chạy xe máy cày đi đến đất rẫy tại khu vực thôn T, xã P, huyện N thì thấy ông Nguyễn Phúc T (cha của C) và ông Hồ Minh N đang vật lộn, đánh nhau. C không hỏi rõ nguyên nhân vì sao đánh nhau mà C đã chủ động lấy cây rựa trên xe máy cày chạy đến chỗ ông N-ông T đang vật lộn, C kéo ông N ra và hai tay cầm rựa chém về phía ông N nhưng không trúng. Thấy C đang cầm cây rựa đánh ông N nên ông T đến can ngăn và giật lấy cây rựa trên tay của C, C tiếp tục lao tới dùng tay trái túm cổ áo ông N đang nằm ngã dưới đất và dùng tay phải đấm liên tiếp 3-4 cái vào mặt ông N. Tiếp đó, C quay ra nhặt một cục đá ở bên cạnh định đánh ông N thì ông T và bà N1 lao đến can ngăn thì C mới ngừng đánh ông N. Hậu quả ông N bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 47%.

Hành vi của bị cáo phải đánh giá mang tính côn đồ, hung hãn, thể hiện tính chất quyết liệt, dù đã được cha ruột 2 lần can ngăn tước bỏ cây rựa, hòn đá, thể hiện sự liều lĩnh, bất chấp pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Phúc C về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo điểm c khoản 3 (thuộc điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Chính hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc C trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: cùng gia đình bồi thường một phần thiệt hại về dân sự cho bị hại, gia đình bị cáo thờ cúng người có công với đất nước, được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá về nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu, trong thời gian được tại ngoại điều tra, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, thái độ khai báo quanh co, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải. Mức hình phạt 06 năm tù là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với hình phạt tại khoản 3 Điều 134 BLHS (5 đến 10 năm tù).

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Phúc C, thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng không làm thay đổi bản chất của vụ án. Ngoài ra, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do: đã bồi thường thiệt hại dân sự đã được cấp sơ thẩm xem xét. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc C.

[4] Xét kháng cáo của bị hại Hồ Minh N, thấy rằng:

[4.1] Xác định vai trò đồng phạm của Nguyễn Phúc T:

Thương tích của bị hại Hồ Minh N là hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Phúc C gây ra. Ông Nguyễn Phúc T không tham gia cùng Nguyễn Phúc C vào việc gây thương tích cho ông N mà 2 lần còn có hành vi can ngăn Nguyễn Phúc C dùng rựa chém, dùng đá đánh đối với Hồ Minh N.

Việc Nguyễn Phúc T có xô xát, ôm vật với Hồ Minh N diễn ra trước khi Nguyễn Phúc C đến, không gây thương tích cho N. Nguyễn Phúc T đã bị Công an xã P, huyện N xử phạt hành chính 400.000đ, theo quyết định số 0686/QĐ- XPHC ngày 06/2/2023 về hành vi này; Không có căn cứ xác định: vai trò đồng phạm của Nguyễn Phúc T trong việc gây thương tích cho Hồ Minh N như kháng cáo của bị hại Hồ Minh N.

[4.2] Đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phúc C:

Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc C 6 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS là phù hợp (như đã đánh giá ở mục [2]), kháng cáo tăng hình phạt của bị hại Hồ Minh N là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[4.3] Về việc buộc Nguyễn Phúc T liên đới bồi thường thiệt hại dân sự:

Bị hại Hồ Minh N chỉ kháng cáo về nghĩa vụ liên đới bồi thường của Nguyễn Phúc T; Chấp nhận mức bồi thường 300.800.000đ như bản án sơ thẩm, không có kháng cáo về về mức bồi thường.

Như đã phân tích, đánh giá ở mục [4.1]: thương tích của bị hại Hồ Minh N là hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Phúc C gây ra nên bị cáo C phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Hồ Minh N, HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về nghĩa vụ liên đới bồi thường của Nguyễn Phúc T.

[4.4] Bị hại Hồ Minh N kháng cáo bổ sung, yêu cầu: hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc C, bị hại Hồ Minh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa.

[5] Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Phúc C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc C và bị hại Hồ Minh N;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Phúc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c khoản 3 (thuộc điểm i khoản 1) Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc C 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 06/10/2022.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phúc C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21 - 7 - 2023).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

89
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 45/2023/HS-PT

Số hiệu:45/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về