Bản án về tội cố ý gây thương tích số 43/2019/HSPT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

BẢN ÁN 43/2019/HSPT NGÀY 02/04/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Đặng Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 304/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Minh T (tên gọi khác: Cu), sinh năm 1997 tại Thái B; nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Đặng Minh T và con bà Nguyễn Thị Thanh L; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/7/2018; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/3/2018, Đặng Minh T trú tại phòng trọ số 05 dãy nhà trọ không số thuộc đường La Văn C, P, P, N ngồi uống bia tại phòng số 02 thì xảy ra mâu thuẫn với anh B (không rõ nhân thân, lai lịch) ở cùng dãy nhà trọ. T chạy về phòng trọ của mình lấy 01 con dao Kiwi - Brand Madein Thailand bằng kim loại màu sáng, cán gỗ dài khoảng 30cm (lưỡi dài 20cm, cán dài 10cm) đi tìm anh B để giải quyết mâu thuẫn. Do quá say nên T đi nhầm vào phòng số 03. Lúc này, tại phòng số 03 có Võ Khắc H, Nguyễn T Sở và Nguyễn T V đang ngồi uống bia. T thấy Nguyễn T V ngồi ngay cửa phòng, T dùng dao đâm một nhát vào vùng ngực trái của V gây thương tích rồi đi ra. Lúc này, Nguyễn L là bạn T từ phòng số 02 chạy ra, thấy T đang cầm dao đứng trước phòng số 03 nên can ngăn rồi đưa T về phòng số 05 để mọi người đưa V đi cấp cứu.

Tại Bản giám định pháp y về thương tích số 156/TgT ngày 06/6/2018 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%.

Bản án hình sự sơ thẩm số 304/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố N, đã quyết định: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Đặng Minh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03/12/2018, bị cáo Đặng Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Đặng Minh T giữ nguyên nội dung kháng cáo; khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt Đặng Minh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Minh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngoài ra, tại phần quyết định của án sơ thẩm, cấp sơ thẩm không ghi viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thiếu sót. Đề nghị Hội đồng xét xử rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Lời khai nhận của bị cáo Đặng Minh T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/3/2018, do mâu thuẫn với người tên B, bị cáo Đặng Minh T lấy 01 con dao Thailand đi tìm anh B để giải quyết mâu thuẫn. Bị cáo vào phòng số 3 của dãy nhà trọ không số thuộc đường La Văn C , P, P, N đâm vào vùng ngực trái của anh Nguyễn T V (người không quen biết và không có mâu thuẫn với bị cáo), gây thương tích cho anh V với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như: thành khẩn khai báo; đã bồi thường khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo Đặng Minh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ cũng như hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, không còn tình tiết nào khác để Hội đồng xét xử xem xét, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Minh T.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Ngoài ra, tại phần quyết định của án sơ thẩm, cấp sơ thẩm không ghi viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Minh T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm,

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Đặng Minh T

Xử phạt: Đặng Minh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Đặng Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


71
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 43/2019/HSPT

Số hiệu:43/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về