Bản án về tội cố ý gây thương tích số 28/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 28/2024/HS-ST NGÀY 02/07/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 16/4/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Võ Văn K (tên gọi khác: K1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chổ ở hiện nay: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Võ Văn Đ, sinh năm 1954 và bà Võ Thị L, sinh năm 1969; Vợ: Lê Thị Hồng T, sinh năm 1984; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác. (Có mặt).

- Bị hại:

1. Ông Phan Thanh T1, sinh năm 1998 (Có mặt). Nơi cư trú: Số A, đường T, khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bà Bùi Thị Như N, sinh năm 1997 (Có mặt). Nơi cư trú: Số A, đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại: Ông Trần Văn Đ1, Luật sư Văn phòng L1- Đoàn Luật sư tỉnh S (Có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường P, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng:

1. Ông Tống Tần A, sinh năm 1994 (Vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp S, đường T, ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Lê Hữu N1, sinh năm 1991 (Có mặt). Nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

3. Bà Võ Thị Mỹ T2, sinh năm 1991 (Vắng mặt). Nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

4. Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1984 (Có mặt). Nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Văn K, sinh ngày 01/01/1982, nơi thường trú: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, nơi ở hiện nay: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng có quen biết và vay tiền bị hại Bùi Thị Như N, sinh ngày 15/10/1997, nơi thường trú: số A, đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 30/9/2023 với số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo Kim hẹn trong 01 tháng sẽ trả tiền cho bị hại N. Do đến hạn nhưng bị cáo K không trả tiền, nên bị hại N đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin đến bị cáo K để đòi tiền, nhưng K không trả lời. Vào ngày 02/11/2023, bị hại N cùng với bị hại Phan Thanh T1, sinh ngày 10/8/1998, nơi thường trú: số 195/18/2, đường T, khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đến nhà bị cáo K ở ấp C, xã H, huyện C để đòi tiền và có những lời lẽ lớn tiếng với bị cáo, do không kiềm chế được bản thân và trong lúc nóng giận, bị cáo K đã dùng dao gây thương tích cho N và T1, cụ thể như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 02/11/2023, bị cáo Võ Văn K đang ở nhà tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì có Bùi Thị Như N cùng với Phan Thanh T1 và Tống Tần A đến, nên bị cáo K đi ra mở cửa để cho N và T1 đi vào nhà, còn Tống Tần A thì ở ngoài cổng đợi không vào. Khi vào đến khu vực sân trước nhà, thì Phan Thanh T1 mới đòi tiền và có lời lẽ lớn tiếng với bị cáo Kim n: “Tại sao không trả tiền, sao điện thoại không bắt máy”, “Lâm ăn thiếu nợ mà điện thoại thì không nghe máy”... Lúc này, bị cáo K mới bức xúc, nên đi vào hành lang nhà lấy một con dao, loại dao tự chế cầm bằng tay trái rồi đuổi theo chém tổng cộng 05 nhát vào người T1, lần lượt trúng vào vùng ngang thắt lưng trái, lưng phải, sau vành tai phải, vùng vai phải và tay phải của T1 gây thương tích thì bị hại T1 bỏ chạy. Sau đó, K tiếp tục cầm dao bằng tay trái quay lại cổng chính trước nhà rồi đưa dao lên hướng thẳng về phía N đang đứng, thấy vậy nên N mới dùng hai tay chụp lấy con dao gạt qua một bên, thì Kim giật mạnh con dao lại làm cho ngón I tay phải của N bị đứt gây thương tích, N bỏ chạy ra ngoài nên T1 và N được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện C, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh S tiếp tục điều trị.

Sau khi sự việc xảy ra, ông Tống Tần A đã đến Công an xã H, huyện C trình báo sự việc, bị cáo Võ Văn K cũng đến Công an xã H để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 533/KLTTCT-TTPYST, ngày 21/12/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế, tỉnh S kết luận đối với thương tích của Phan Thanh T1, như sau:

“1. Các kết quả chính:

- Sẹo vùng chẩm phía sau vành tai phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

- Sẹo vùng vai phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

- Sẹo xuôi vùng lưng phải, kích thước lớn, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm).

- Sẹo vùng lưng trái cạnh cột sống lưng L2, kích thước lớn, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm).

- Sẹo xuôi mặt trước-ngoài 1/3 dưới cánh tay phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

- Sẹo ngang mặt sau-ngoài 1/3 trên cẳng tay phải, kích thước, lớn tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm).

- Bề mặt bờ vết sẹo trên sắc-gọn, không gây ảnh hưởng đến chức năng 2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Thanh T1 tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổn thương ở vùng chẩm, vai, lưng là vùng nguy hiểm đến tính mạng.

+ Tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây nên”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 534/KLTTCT-TTPYST, ngày 21/12/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế, tỉnh S kết luận đối với thương tích của Bùi Thị Như N, như sau:

“1. Các kết quả chính: Sẹo mặt lòng ngón I tay phải, kích thước lớn, đứt gân gấp ngón I đã được phẫu thuật khâu nối còn cứng khớp liên đốt ngón I. Bề mặt bờ vết sẹo sắc gọn. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm) và 06% (Sáu phần trăm).

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Thị Như N tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổn thương gây cứng khớp liên đốt ngón I tay phải.

+ Tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây nên.” Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-CT ngày 15-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Võ Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số: 23/CT-VKS-CT, ngày 15-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tủ; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phan Thanh T1, Bùi Thị Như N các khoản chi phí như chi phí điều trị, chi phí phục hồi sức khoẻ, chi phí đi lại khám chữa bệnh, tiền thu nhập bị mất, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh theo yêu cầu của bị hại; đối với khoản tổn thất tinh thần đối với bị hại Bùi Thị Như N đề nghị áp dụng 10 tháng lương cơ sở, đối với bị hại Phan Văn T3 áp dụng 15 tháng lương cơ sở. Về xử lý tang vật: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây dao, tổng chiều dài 46,4cm; cán dao bằng gỗ, dài 13,6cm, hình tròn, đường kính 3,6cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, dài 32,8cm, phần lưỡi dao có hình dạng lồi lõm, chiều rộng lớn nhất 06cm, chiều rộng nhỏ nhất 04cm, trên thân lưỡi dao có nhiều lỗ hình tròn và hình chữ nhật, lưỡi dao có một bề sắc bén, mũi dao nhọn.

Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về phần trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo cầu của các bị hại Phan Thanh T1, Bùi Thị Như N gồm các khoản chi phí như chi phí điều trị, chi phí phục hồi sức khoẻ, chi phí đi lại khám chữa bệnh, tiền thu nhập bị mất, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh. Riêng đối với khoản bồi thường tổn thất tinh thần của bị hại Phan Thanh T1, Bùi Thị Như N bị cáo đồng ý bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị hại Bùi Thị Như N trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo thật nghiêm theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị và tiền ngày công lao động của người bệnh, người nuôi bệnh, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền xe đi lại khám chữa bệnh và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 107.095.456 đồng.

Tại phiên tòa bị hại Phan Thanh T1 trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo thật nghiêm; Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị và tiền ngày công lao động của người bệnh, người nuôi bệnh, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền xe đi lại khám chữa bệnh và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 98.879.837 đồng.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại Phan Thanh T1, Bùi Thị Như N trình bày: Về tội danh và khung hình phạt thống nhất với Cáo trạng là bị cáo Võ Văn K phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên không đặt ra tranh luận. Tuy nhiên, cần áp dụng thêm tình tiết phạm tội có tính côn đồ theo điểm i khoản 1điều 134 BLHS; Đối với các bị hại Phan Thanh T1, Bùi Thị Như N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bồi thường tổn thất tinh thần mỗi người là 15 tháng lương cơ sở.

Trong phần lời nói sau cùng bị cáo Võ Văn K trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng ông Tống Tần A, bà Võ Thị Mỹ T2. Xét thấy, ông Tống Tần A, bà Võ Thị Mỹ T2 được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt của ông Tống Tần A, bà Võ Thị Mỹ T2 không gây trở ngại đến việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Cho nên, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) xét xử vắng mặt những người nói trên.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Võ Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo K tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Cho nên, có cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc bị bị hại Bùi Thị Như N nhắn tin, gọi điện xúc phạm để đòi nợ, nên khoảng 11 giờ ngày 02/11/2023, khi bị hại Bùi Thị Như N cùng với bị hại Phan Thanh T1 đến nhà của bị cáo Võ Văn K, tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng để đòi nợ và có lời lẽ lớn tiếng, thì bị cáo Võ Văn K dùng dao tự chế chém 05 nhát trúng vào vùng ngang thắt lưng trái, lưng phải, sau vành tai phải, vùng vai phải và tay phải của bị hại T1 gây thương tích, với tổng tỷ lệ thương tích qua giám định là 14%. Tiếp đến, bị cáo K dùng dao chỉ thẳng về phía bị hại N, nên bị hại N dùng hai tay chụp lấy con dao thì bị cáo Kim giật mạnh dao lại gây thương tích ở ngón I bàn tay phải của bị hại N, với tổng tỷ lệ thương tích qua giám định là 09%.

Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKS-CT ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Võ Văn K về tội “có ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn K là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng sức khỏe con người là vốn quý của xã hội và được pháp luật bảo vệ nhưng chỉ vì bị bị hại Bùi Thị Như N nhắn tin, gọi điện xúc phạm để đòi nợ bị cáo Võ Văn K và vào khoảng 11 giờ ngày 02/11/2023, khi bị hại Bùi Thị Như N cùng với bị hại Phan Thanh T1 đến nhà của bị cáo Võ Văn K để đòi nợ và có lời lẽ lớn tiếng, thì bị bị cáo Võ Văn K dùng dao tự chế chém 05 nhất trúng vào vùng ngang thắt lưng trái, lưng phải, sau vành tai phải, vùng vai phải và tay phải của bị hại T1 gây thương tích, với tổng tỷ lệ thương tích qua giám định là 14%. Tiếp đến, bị cáo K dùng dao chỉ thẳng về phía bị hại N, nên bị hại N dùng hai tay chụp lấy con dao thì bị cáo Kim giật mạnh dao lại gây thương tích ở ngón I bàn tay phải của bị hại N, với tổng tỷ lệ thương tích qua giám định là 09%; con dao mà bị cáo dùng để gây thương tích đối với các bị hại là hung khí nguy hiểm.Cho nên, hành vi của bị cáo Võ Văn K2 đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn K là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của các bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm cho toàn xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan Công an đầu thú; bị cáo có người thân có công với cách mạng nên Hội xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Bị hại Bùi Thị Như N yêu cầu bị cáo Võ Văn K bồi tổng số tiền là 107.095.456 đồng. Cụ thể: Tiền chi phí điều trị: 3.695.456 đồng; chi phí phục hồi sức khỏe: 3.000.000 đồng; chi phí đi lại để khám chữa bệnh: 2.000.000 đồng; tiền thu nhập bị mất: 07 ngày x 1.000.000 đồng = 7.000.000 đồng; tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh: 07 ngày x 200.000 đồng = 1.400.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng = 90.000.000 đồng. Xét thấy, đối với khoản tiền chi phí điều trị 3.695.456 đồng, tiền chi phí phục hồi sức khỏe là 3.000.000 đồng, tiền thu nhập bị mất 07 ngày là 7.000.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh là 1.400.000 đồng, tiền chi phí đi lại để khám chữa bệnh 2.000.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 17.095.456 đồng, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường các khoản trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần bị hại N yêu cầu bị cáo bồi 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng là quá cao, trong khi bị hại chỉ bị thương tích 09% nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại N tiền tổn thất tinh thần là 06 tháng lương cơ sở x 2.340.000 đồng = 14.040.000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo Võ Văn K bồi thường cho bị hại Bùi Thị Như N là 31.135.456 đồng.

[7.2] Bị hại Phan Thanh T1 yêu cầu bị cáo Võ Văn K bồi tổng số tiền là 98.879.837 đồng. Cụ thể: Tiền chi phí điều trị: 2.599.837 đồng, chi phí phục hồi sức khỏe: 3.000.000 đồng, chi phí đi lại để khám chữa bệnh: 2.000.000 đồng, tiền thu nhập bị mất: 07 ngày x 500.000 đồng = 3.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh: 07 ngày x 200.000 đồng = 1.400.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần: 50 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng = 90.000.000 đồng. Xét thấy, đối với khoản tiền chi phí điều trị 2.599.837 đồng, tiền chi phí phục hồi sức khỏe là 3.000.000 đồng, tiền thu nhập bị mất là 3.500.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh là 1.400.000 đồng, tiền chi phí đi lại để khám chữa bệnh 2.000.000 đồng. Tổng cộng là 12.499.837 đồng, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường các khoản nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần bị hại T1 yêu cầu bị cáo bồi 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng là quá cao, trong khi bị hại chỉ bị thương tích 14% nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại T1 tiền tổn thất tinh thần là 10 tháng lương cơ sở x 2.340.000 đồng = 23.400.0000 đồng. Tổng cộng buộc bị cáo Võ Văn K bồi thường cho bị hại Phan Thanh T1 là 35.899.837 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng:Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng có thu giữ 01 cây dao, tổng chiều dài 46,4cm; cán dao bằng gỗ, dài 13,6cm, hình tròn, đường kính 3,6cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, dài 32,8cm, phần lưỡi dao có hình dạng lồi lõm, chiều rộng lớn nhất 06cm, chiều rộng nhỏ nhất 04cm, trên thân lưỡi dao có nhiều lỗ hình tròn và hình chữ nhật, lưỡi dao có một bể sắc bén, mũi dao nhọn. Xét thấy, cây dao nói trên là hung khí bị cáo Võ Văn K3 dùng gây thương tích cho các bị hại nên Hội đồng xét xử Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.

[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.Tuy nhiên đối với khoản bồi thường tổn thất tinh thần đối với các bị hại T1 và N thì cao như đã phân tích tại đoạn [7.1] và [7.2] nên HĐXX chỉ chấp nhận mức hợp lý theo quy định.

[10] Lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích của các bị hại là có cơ sở tuy nhiên về áp dụng tình tiết tăng nặng là không có cơ sở. Đối với khoản bồi thường tổn thất tinh thần đối với các bị hại T1 và N thì mức đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại là cao nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận ở mức hợp lý theo quy định của pháp luật như đã phân tích tại đoạn [7 .1] và [7.2].

[11] Về án phí: Bị cáo Võ Văn K là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 3.351.764 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn K.

- Tuyên bố bị cáo Võ Văn K (K1) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Xử phạt bị cáo Võ Văn K (Kiệm) 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ Luật dân sự năm 2015 - Buộc bị cáo Võ Văn K bồi thường cho bị hại Bùi Thị Như N số tiền 31.135.456 đồng (Ba mươi mốt triệu, một trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm năm mươi sáu đồng).

- Buộc bị cáo Võ Văn K bồi thường cho bị hại Phan Thanh T1 số 35.899.837 đồng (Ba mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi chín ngàn, tám trăm ba mươi bảy đồng).

- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao, tổng chiều dài 46,4cm; cán dao bằng gỗ, dài 13,6cm, hình tròn, đường kính 3,6cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, dài 32,8cm, phần lưỡi dao có hình dạng lồi lõm, chiều rộng lớn nhất 06cm, chiều rộng nhỏ nhất 04cm, trên thân lưỡi dao có nhiều lỗ hình tròn và hình chữ nhật, lưỡi dao có một bề sắc bén, mũi dao nhọn 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3012-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử buộc bị cáo Võ Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 3.351.764 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 28/2024/HS-ST

Số hiệu:28/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về