TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
BẢN ÁN 24/2024/HS-ST NGÀY 01/02/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2005; tại V; nơi cư trú: Thôn Th, xã T, huyện B, tỉnh V; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng; đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đỗ Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02 tháng 10 năm 2023, thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Dương Quang K, sinh năm 1994 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09 % và anh Lý Văn Đ, sinh năm 1994 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B khởi tố T về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do anh K và anh Đ là bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố, nên ngày 14 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn T.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03 tháng 10 năm 2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt”.
2. Hà Duy L, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2003; tại Tuyên Quang; nơi cư trú:
Thôn Th, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng; đoàn thể: Không; con ông Hà Văn H và bà Lương Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án; tại bản án Hình sự sơ thẩm số 133/2021/HS -ST ngày, 17 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh V xử phạt bị cáo Hà Duy L 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về Tội “Trộm cắp tài sản”. Lập chấp hành xong thời gian thử thách của án treo ngày 17 tháng 01 năm 2023; Chấp hành xong án phí ngày 21 tháng 02 năm 2022, (Chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; “có mặt”.
Bị hại: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1994. , “vắng mặt”.
Đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Cư trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn G, huyện B, tỉnh V.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983, (là bố bị cáo T), “có mặt”. Cư trú tại: Thôn Th, xã T, huyện B, tỉnh V.
- Ông Hà Văn H, sinh năm 1979, (là bố bị cáo L), “có mặt”. Cư trú tại: Thôn Th, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1999, “vắng mặt”.
Cư trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn G, huyện B, tỉnh V.
-Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1964, (là bố anh H), “vắng mặt”.
Cư trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn G, huyện B, tỉnh V.
Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
-Bà Dương Thị H, sinh năm 1958, “vắng mặt”.
-Chị Nguyễn Hải Y, sinh năm 1999, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T thường xuyên đến quán Bi-a của anh Nguyễn Quang S chơi, tại đây T gặp và quen Hà Duy L, là người làm thuê trông coi, quản lý quán Bi a cho anh S. Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 7 năm 2023, L điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream chở T đi trên đường liên thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện B để ra đường ĐT 310, đoạn gần khu “Chợ cóc”, T và L nhìn thấy anh Nguyễn Ngọc H đang đi cùng và nói chuyện với chị Nguyễn Hải Y; Hà Duy L điều khiển xe đi chậm lại; T ngồi sau xe có nhìn anh H và chị Y. Anh H cho rằng T nhìn đểu mình nên nói "Mày thích nhìn không....", nghe anh H nói vậy, T không nói gì mà bảo L "Đi về quán" với mục đích là về quán anh S lấy dao đi đánh anh H. Khi cả hai về quán Bi a, T lên gác lấy 01 dao - loại dao tự chế dài 84cm, bản rộng 4cm đã cũ, han rỉ, (Theo T khai là nhặt được và để ở đó từ trước) rồi đi xuống nói với L "Đi quay lại tìm thằng đấy", hiểu ý của T là quay lại đánh anh H, L đồng ý rồi điều khiển xe chở T đi tìm đánh anh H. Khi cả hai đi đến gần nhà nghỉ Quân Lương thuộc thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, (gần khu Chợ cóc), L điều khiển xe rẽ phải đi vào khu Chợ cóc và đi chậm để cùng T quan sát. Khi T nhìn thấy anh H đang đứng mua trứng liền nói với L "Kia kìa", thì L điều khiển xe đến cách anh H khoảng 5m thì dừng lại, còn T nhảy xuống xe tay phải cầm dao đi về phía anh H. Khi cách anh H khoảng 01m, lúc này anh H đang đứng quay lưng ra đường, hơi chếch chéo hướng lưng về phía T, T cầm dao chém liên tiếp 02 phát vào vai trái của anh H, anh H quay người lại thì T tiếp tục giơ dao chém 01 phát về phía anh H, anh H giơ tay trái lên đỡ nên bị dao chém trúng vào cẳng tay trái. Bị chém anh H ôm tay ngồi xuống đường, T tiếp tục vung dao chém anh H thì anh H giơ chân trái lên đỡ nên bị dao chém trúng vào ngón chân. Sau đó anh H nói "Em làm gì anh đâu" thì T dừng lại không chém anh H nữa, rồi cùng L về quán của anh S, T cất giấu dao ở gác xép, sau đó T và L đi về nhà của mình.
Hậu quả: Anh H bị thương tích ở tay trái, ngón 1 bàn chân trái, gãy xương trụ trái được đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh V đồng thời có đơn trình báo đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện B xử lý đối tượng đã gây ra thương tích cho anh theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Văn T đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B để đầu thú về hành vi phạm tội của mình;
Vật chứng thu giữ: Ngày 31 tháng 7 năm 2023, anh Nguyễn Quang S tự nguyện nộp cho Cảnh sát điều tra - Công an huyện B 01 dao, dài 84cm, bản rộng 4cm đã cũ, han rỉ - là hung khí T dùng chém anh H để phục vụ điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với anh Nguyễn Ngọc H. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 321/ KLTTCT - PYVP ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm pháp y V, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Sẹo vết thương phần mềm vùng 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
- Sẹo vết thương phần mềm cách vết sẹo này về phía trên 02 cm kích thước trung bình xếp: 02%;
- Sẹo vết thương phần mềm cách vết sẹo này về phía trước ngoài 2,5cm kích thước nhỏ xếp: 01%;
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt sau ngoài cánh tay trái kích thước trung bình xếp: 02%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên đường nách bên trái kích thước trung bình xếp: 02%;
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cánh tay trái kích thước nhỏ xếp:
01%;
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trong đốt 2 ngón 1 bàn chân trái kích thước nhỏ xếp: 01%;
- Mất 1/3 móng ngón 1 chân trái xếp: 01%; Gãy 1/3 dưới xương trụ trái xếp :
07%;
- Tổn thương thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh quay hiện tại chưa đánh giá được các biến chứng, chờ ổn định giám định bổ sung.
- Cơ chế hình thành: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc nhọn gây nên.
- Mất 1/3 móng ngón 1 chân trái và sẹo đốt 2 ngón 1 bàn chân trá là do mài trên bề mặt vật tày diện rộng gây nên.
2. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y Tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc H tại thời điểm giám định là: 18% (Mười tám phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, Trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định bổ sung thương tích đối với Nguyễn Ngọc H. Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 321/ KLTTCT - PYVP tổn thương trên cơ thể người sống kết luận:
"1. Các kết quả chính:
- Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 321/ KLTTCT - PYVP ngày 05/9/2023 xếp 18%. áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.
- Giám định bổ sung. Tổn thương thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh quay đã phẫu thuật. Hiện tại cằng bàn tay trái còn hạn chế vận động. Theo kết quả khám chuyên khoa thần kinh của Bệnh viện đa khoa tỉnh V ngày 03/10/2023 kết luận: Vết thương cẳng tay trái hạn chế gấp duỗi cổ tay trái, hạn chế gấp duỗi các ngón tay trái, không tổn thương thần kinh, do vậy có mâu thuẫn nên hiện tại không có căn cứ để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thường cơ thể. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B giám định tại Viện pháp y Quốc gia để có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm các tổn thương còn lại.
2. Kết luận.
Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y Tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc H tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.” Ngày 09 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, Trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định bổ sung thương tích đối với Nguyễn Ngọc H. Ngày 10 tháng 12 năm 2023, anh H có đơn từ chối giám định. Nội dung đơn là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Duy L đã tác động nhờ ông Nguyễn Văn T1 là bố bị cáo T, ông Hà Văn H là bố bị cáo L bồi thường cho anh H tổng số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng); mỗi bị cáo là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); do ông Nguyễn Văn M, là bố anh H nhận thay; sau khi nhận đủ số tiền trên, anh H, ông M không có yêu cầu đề nghị gì; đồng thời anh H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSBX ngày 17 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố Nguyễn Văn T và Hà Duy L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Văn T và Hà Duy L về tội “Cố ý gây thương tích” như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 03 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Duy L từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Bị hại là anh Nguyễn Ngọc H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Quang S; người làm chứng là chị Nguyễn Hải Y, bà Dương Thị H vắng mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1, ông Hà Văn H, có mặt tại phiên tòa; những người vắng mặt, có mặt đã có lời khai, phù hợp với lời khai của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; ông Nguyễn Văn T và ông Hà Văn H không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho các ông số tiền các ông đã bỏ ra để bồi thường thay cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, của Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T và Hà Duy L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện B. Các bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 7 năm 2023, khi các bị cáo đang lưu thông trên đường tại thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện B, tỉnh V thì Nguyễn Văn T, và Hà Duy L, có nhìn anh Nguyễn Ngọc H, đang nói chuyện với chị Nguyễn Hải Y thì anh Nguyễn Ngọc H có nói "Mày thích nhìn không"; lập tức T bảo Hà Duy L điều khiển xe mô tô về quán Bi a của anh Hà Quang S, T cầm theo một con dao tự chế dài 84cm, bản rộng 4cm - là hung khí nguy hiểm, Lập điều khiển xe mô tô quay lại để tìm đánh anh H; khi T và L phát hiện anh H đang đứng mua hàng ở khu Chợ cóc, thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện B lập tức T xuống xe tiến đến chỗ anh H chém anh H nhiều nhát vào vai, vào tay và chân của anh H, sau đó L điều khiển xe chở T về quán anh S, cất dấu hung khí gây án; tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc H bị Nguyễn Văn T và Hà Duy L gây ra với tổn hại là 18%.
[3]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại; sơ đồ hiện trường; vật chứng vụ án đã thu giữ; kết luận giám định về tỷ lệ tổn hại phần trăm cơ thể của Trung tâm pháp y tỉnh V cùng các tài liệu, chứng cứ khác, được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt, mâu thuẫn trong câu nói mà Hà Duy L dùng xe mô tô chở theo Nguyễn Văn T, để T dùng dao chém vào vai, cẳng tay trái và ngón chân trái của anh Nguyễn Ngọc H; hành vi dùng dao chém bị cáo Nguyễn Văn T, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thương tích, tổn hại sức khỏe của anh Nguyễn Ngọc H. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T và Hà Duy L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”; tội danh được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều luật quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này...“ Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình quy định:
“a) Dùng… hung khí nguy hiểm…;
….i) Có tính chất côn đồ…” [4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh tại địa phương và xâm phạm đến sức khỏe của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm và răn đe phòng ngừa chung.
[5]. Xét tính chất, vai trò, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T có vai trò chính, trực tiếp rủ, lôi kéo bị cáo Hà Duy L thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp dùng dao chém, gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc H; bị cáo Hà Duy L tham gia với vai trò giúp sức, điều khiển xe mô tô để cho bị cáo T tìm đánh anh H; khi tìm được anh H bị cáo L cảnh giới để cho bị cáo T chém, gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc H. Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tác động gia đình, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo T sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B để đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị cáo T, L được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là bị hại là anh Nguyễn Ngọc H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; khi thực hiện hành vi phạm tội đối với anh Nguyễn Ngọc H thì bị cáo T là người chưa đủ 18 tuổi, nên được hưởng chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội, quy định tại Điều 90 và Điều 91 của Bộ luật Hình sự; là các căn cứ để Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo; tuy nhiên bị cáo Hà Duy L đã có 01 tiền án về Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích của bản án Hình sự sơ thẩm số 133/2021/HS-ST, ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh V nên lần phạm tội này là “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, trong thời gian ngắn đã thực hiện 02 lần hành vi cố ý gây thương tích, xâm phạm về sức khỏe của người khác chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt, với những vật dụng là hung khí nguy hiểm, điều đó thể hiện tính chất coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác nên cũng cần có hình phạt thỏa đáng với từng bị cáo.
Trên cơ sở xem xét toàn bộ nội dung vụ án; Hội đồng xét xử, xét thấy cũng cần thiết phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng giáo dục, cảm hóa các bị cáo, giúp các bị cáo nhận ra sai lầm, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
[6.1]. Đối với 01 dao - loại dao tự chế dài 84cm, bản rộng 4cm đã cũ, han rỉ xác định là công cụ T sử dụng để chém anh H do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[6.2]. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream L sử dụng để chở T đi đánh anh H. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Quang S, ngày 30 tháng 7 năm 2023 L sử dụng chiếc xe đó chở T, anh S không biết; sau đó anh S đã chuyển nhượng cho người khác; Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được chiếc xe trên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6.3]. Đối với số tiền là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng); mà ông Nguyễn Văn T1 và ông Hà Văn H bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc H; do ông Nguyễn Văn M là bố anh H nhận thay, trong đó kỷ phần của mỗi bị cáo là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Sau khi nhận đủ số tiền trên anh H không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự, do đó Hội đồng xét xử xác nhận sự thỏa thuận trên là hợp pháp. [7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Hà Duy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T và Hà Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Duy L.
Xử phạt bị cáo Hà Duy L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Nguyễn Văn T, (Đại diện là ông Nguyễn Văn T1), bị cáo Hà Duy L (Đại diện là ông Hà Văn H) và anh Nguyễn Ngọc H (Đại diện là ông Nguyễn Văn M), các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc H, tổng số tiền 120.000.000 đồng, (Một trăm hai mươi triệu đồng) là số tiền thiệt hại do các bị cáo đã có hành vi xâm hại về sức khỏe của anh Nguyễn Ngọc H vào ngày 30 tháng 7 năm 2023. (Xác nhận các bị cáo đã bồi thường xong).
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy 01 dao tự chế dài 84cm, bản rộng 4cm, mũi dao nhọn, có một lưỡi sắc, đã cũ, han rỉ; (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30 tháng 01 năm 2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B) Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Hà Duy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tội cố ý gây thương tích số 24/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 24/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 01/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về