Bản án về tội cố ý gây thương tích số 203/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 203/2024/HS-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 269/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị áo:

Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 269/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ VĂN T (tên gọi khác: N), sinh ngày 01/5/1990 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: thợ làm bánh; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ (sinh năm 1966 – cha dượng) và bà Trần Thị H (sinh năm 1970); Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Ông Võ Hưng V, sinh năm 1981, trú tại Khu phố 3, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Ngọ H, sinh năm 1976, trú tại Khu phố 1, phường Đức Long, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1981, trú tại Khu phố 1, phường Đức Long, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/02/2024, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển số **86C1-xxxxx** đi mua bia thì gặp ông Võ Hưng V đang ngồi nhậu cùng Nguyễn Ngọ H và Nguyễn Minh M tại hẻm 500 đường Trần Hưng Đ, thuộc khu phố 3, phường L, thành phố P. Do hẻm nhỏ, ba người này ngồi lấn chiếm lòng hẻm làm việc đi lại khó khăn nên T lớn tiếng chửi bới. Ông V nhìn T nhưng không nói gì.

Lúc này, T điều khiển xe mô tô về nhà, nhưng cho rằng ông V có thái độ “nhìn đểu” mình nên T quay lại nơi ông V đang nhậu để nói chuyện. Trên đường đi, T nhặt 01 cây gỗ, dài khoảng 01 mét, rồi cầm đến chỗ ông V. Tại đây, T cầm cây gỗ trên tay trái, từ phía sau đánh một cái vào vai trái khiến ông V té ngã. Khi ông V đứng dậy, T tiếp tục dùng cây gỗ đánh một cái vào vùng đầu. Ông V đưa tay phải lên đỡ nên trúng cẳng tay phải và phần đầu bên phải, gây thương tích.

Sau đó, quần chúng nhân dân chạy đến can ngăn nên T bỏ đi về nhà, còn ông V được đưa đến Bệnh viện Đa khoa An Phước để điều trị thương tích.

Ngày 09/02/2024, T đã đến Công an phường L trình báo sự việc. Quá trình điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng của vụ án: 01 cây gỗ (dạng gậy gỗ hình vuông), dài khoảng 01 mét, là hung khí gây án. Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 397/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 03/5/2024 của Trung tâm Giám định y khoa – Pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận về thương tích của ông Võ Hưng V như sau:

“1. Các kết quả chính:

- Vết thương vùng đỉnh đầu phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (7x0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.

- Chấn thương bàn tay phải, gãy kín đầu gần xương bàn V bàn tay phải hiện can xương chưa hoàn toàn, vận động bàn tay phải bình thường. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%.

- Chấn thương vai - cánh tay trái, gãy đầu ngoài xương đòn trái hiện can xương chưa hoàn toàn. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Hưng V tại thời điểm giám định là 15%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Vết thương vùng đỉnh đầu phải, các chấn thương bàn tay phải, vai - cánh tay trái do vật tày gây ra.

+ Vết thương vùng đỉnh đầu phải có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động nhẹ; chấn thương bàn tay phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động mạnh; chấn thương vai - cánh tay trái có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động mạnh.

+ Hiện không xác định cố tật”.

Về dân sự: Ông Võ Hưng V yêu cầu Lê Văn T bồi thường 10.500.000 đồng chi phí điều trị thương tích. Bị cáo T đã bồi thường cho ông V số tiền trên, ông V không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự.

Tại Bản Cáo trạng số 157/CT-VKS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội **“Cố ý gây thương tích”** theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng và không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đồng thời trình bày bản thân là lao động chính trong gia đình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện lao động nuôi cha mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn T tại tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 08/02/2024, tại hẻm 500 đường Trần Hưng Đ, khu phố 3, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, do nghĩ rằng ông Võ Hưng V “nhìn đểu” mình, Lê Văn T đã dùng một cây gậy gỗ dài khoảng 01 mét đánh vào vai trái, tay phải và đầu của ông V, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo Lê Văn T là người đã thành niên, nhận thức rõ việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì cho rằng ông Võ Hưng V “nhìn đểu” và xúc phạm mình mà đã dùng một cây gậy gỗ – là hung khí nguy hiểm – để gây thương tích cho ông V với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, với các tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại các điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong nhà. Ngoài ra, bị cáo còn xuất trình tài liệu thể hiện cha dượng là ông Lê Văn Đ, là bộ đội phục viên, có thời gian tham gia công tác ở chiến trường K 03 năm 05 tháng, hiện nay lớn tuổi, sức khỏe yếu, đang sống chung với bị cáo và mẹ ruột. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình cho bị cáo.

[5] Về mức hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, tuy nhiên còn nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị, vừa đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại Võ Hưng V yêu cầu bị cáo T bồi thường 10.500.000 đồng chi phí điều trị thương tích. Bị cáo đã bồi thường số tiền trên, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng của vụ án là 01 cây gậy gỗ (dạng gậy gỗ ba vuông), dài khoảng 01 mét – hung khí của vụ án. Cơ quan Công an đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không xem xét xử lý.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt : bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 cây gậy gỗ (dạng gậy gỗ ba vuông), dài khoảng 01 mét – hung khí của vụ án. Cơ quan Công an đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không xem xét.

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo

Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/9/2024).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

62
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 203/2024/HS-ST

Số hiệu:203/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về