TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐR, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 12/2024/HS-ST NGÀY 28/05/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Ngày 28 tháng 05 năm 2024 . Tòa án nhân dân huyện ĐR mở phiên toà xét xử trực tuyến tại hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử số 2, Toà án nhân dân huyện ĐR, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐR, đối với vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: K’ B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 02 tháng 05 năm 1995 tại Lâm Đồng.
Nơi ĐKHKTT: Xã Liêng SR, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở: Thôn 5 - Xã Liêng SR, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mạ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.Họ tên cha: Ndu H, sinh năm 1967. Họ tên mẹ: K’ Z, sinh năm 1969. Anh em ruột: Có 06 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2005, bị cáo là con cả trong gia đình. Hiện cha mẹ đang sinh sống tại xã Liêng Sr, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng.Vợ: Bòn Kròng K’ Nh, sinh năm 2004. Con: 01 đứa. Tiền án, tiền sự: (không). Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 31/10/2023, đến ngày 09/11/2023 thì được tại ngoại, Ngày 21/11/2023 thì bị bắt tạm giam tiếp; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện ĐR. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: ông Đổng Duy M. Sinh năm: 1993. HKTT: Thôn 2 – Liêng Sr – ĐR – Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
Bà Bòn Krong K’ Gr. Sinh năm: 1975. Ông K’ B. Sinh năm: 1999.
Bà Đà Cát Thúy M. Sinh năm 2001.
Bà Trê K’ Ngh. Sinh năm: 2005. Bà Trê K’ Ng. Sinh năm: 1995.
Bà Trê K’ Ng. Sinh năm: 2005.
Bà Bòn Kròng K’ Nh. Sinh năm: 2004.
Tất cả đều trú tại thôn 2 - Liêng Srônh – Đam Rông – Lâm Đồng. Tất cả đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 29/10/2023, K’ B đi qua nhà ông K’ B để gọi mẹ vợ là bà Bon Krong K’ Gr về, tại đây có ông K’ B, bà Đà cát Thúy M ( Vợ K’ B), bà K’ G, Đổng Duy M đang ngồi nhậu, lúc này mọi người nói K’ B ngồi chơi cùng, B đồng ý. Trong quá trình uống rượu, Đổng Duy M và K’ B cải nhau về bình xịt thuốc sâu là 18 lít hay 22 lít, sau đó M dùng tay đấm vào mặt K’ B 02 cái, được mọi người can ngăn, nên K’ B về nhà nằm ngủ, Đỏng Duy M tiếp tục đi theo K’ B đến mương nước cách nhà K’ B khoảng 18 mét thì đứng chửi và thách thức K’ B ra đánh nhau. B đi ra đến cửa thấy có 01 cái búa nên cầm theo và đi về chỗ M đứng, khi K’ B tới gần M lao vào đánh K’ B, nên tay phải B cầm búa đập về phía M thì trúng vào đầu, Mai kêu đau và gục xuống tại chỗ. Vợ K’ B chạy tới giật lấy cái búa trên tay, nên K’ B quay về nhà nhặt 01 viên gạch màu đỏ, loại 06 lỗ chạy đến chỗ M đang nằm và nói “ tao đánh mày bằng búa mà mày chưa chết nữa hả, bây giờ tao đập mày bằng gạch” nhưng được mọi người can ngăn, nên K’ B dừng lại, Mai được mọi người đưa đi về nhà, đến trưa 30/10/2023 thì được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 cây búa, đầu búa bằng kim loại, một phần là hình trụ tròn, phần còn lại đầu búa bằng hình chữ V, cán bằng gỗ bọc cao su, chiều dài 33cm, là công cụ K’ B dùng để đánh M, ngoài ra không thu giữ tang vật nào khac.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 620/KLTTCT-PYLĐ ngày 04/12/2023 của Trung tâm pháp y-Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng, xác định tỉ lệ thương tích của ông Đổng Duy M gồm khuyết so thái dương trái đáy phập phòng là 33%, sẹo mổ sọ não là 02%. Tổng tỉ lệ thương tật là 34%. Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo K’ B đã bồi thường cho ông Đổng Duy M với số tiền là 13.000.000đ; ông M không còn yêu cầu gì thêm và tự nguyện viết đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra cũng xác định lỗi một phần do người bị hại gây ra, nên dẫn đến K’ B gây thương tích cho Đổng Duy M.
Đối với hành vi Đổng Duy M đánh bị cáo K’ B 02 cái gây trầy xướt phần mũi, nhưng bị cáo K’ B không yêu cầu giám định thương tích, cơ quan điều tra ra quyết định xử lý hành chính đối với ông Đổng Duy M là đúng quy định pháp luật.
Theo bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 06/05/2028 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng, thì bị cáo K’ B bị truy tố về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo K’ B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Người bị hại ông Đổng Duy M khai nhận nguyên nhân xảy ra thương tích là do lỗi của cả hai bên bị cáo và bị hại, nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét buộc bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án và khẳng định rằng với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo, người bị hại và người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án, thì hành vi của bị cáo K’ B có đủ căn cứ để truy tố về tội cố ý gây thương tích. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐR giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo K’ B về tội cố ý gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo K’ B phạm tội cố ý gâu thương tích. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 1, Điểm c khoản 3 Điều 134, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi năm 2017 xử phạt bị cáo K’ B từ 30 đến 36 tháng tù giam.
Đối với phần trách nhiệm dân sự, bị cáo và gia đình bị cáo đã khắc phục cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị không xem xét giải quyết lại.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo K’ B phải chịu án phí HSST theo luật định.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu thiêu hủy 01 cái búa.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì so với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
Trong phần nói lời sau cùng bị cáo K’ B thừa nhận hành vi của bị cáo là có tội, bị cáo rất ăn năn hối cải, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, khởi tố. Truy tố bị cáo, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện ĐR, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐR , Kiểm sát viên, cơ bản đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thì thấy rằng: Bị cáo K’ B đã có hành vi cố ý gây thương tích cho ông Đổng Duy M, cụ thể như sau Trong quá trình uống rượu, Đổng Duy M và K’ B cãi nhau về bình xịt thuốc sâu là 18 lít hay 22 lít, sau đó M dùng tay đấm vào mặt K’ B 02 cái, được mọi người can ngăn, nên K’ B về nhà nằm ngủ, Đổng Duy M tiếp tục đi theo K’ B đến mương nước cách nhà K’ B khoảng 18 mét thì đứng chửi và thách thức K’ B ra đánh nhau. B đi ra đến cửa thấy có 01 cái búa nên cầm theo và đi về chỗ M đứng, khi K’ B tới gần M lao vào đánh K’ B, nên tay phải B cầm búa đập về phía Mai thì trúng vào đầu. Hậu quả là Đổng Duy M bị thương tích với tỉ lệ thương tật 34%. Như vậy hành vi của bị cáo B đã cấu thành tội cố ý gây thương tích cho người khác, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐR truy tố bị cáo K’ B về Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội bị cáo K’ B là rất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc dùng búa đánh vào người khác là hành vi vi phạm pháp luật, thấy trước được hậu quả xảy ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Do đó cần phải xử lý bị cáo với mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội, đồng thời cũng là để làm gương cho người khác.
Đối với hành vi Đổng Duy M đánh bị cáo K’ B 02 cái gây trầy xướt phần mũi, nhưng bị cáo K’ B không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý trách nhiệm, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.
[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K’ B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, bị cáo và gia đình bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo, đồng thời trong vụ án này người bị hại là người có lỗi một phần, điều này thể hiện rõ khi xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, Đổng Duy M dùng tay đấm bị cáo 02 cái, và được mọi người căn ngăn thì bị cáo K’ B bỏ về nhà ngủ, nhưng bị hại Đổng Duy M đuổi theo đến nhà bị cáo, chửi bới và thách thức bị cáo K’ B ra đánh nhau, gây kích động về tinh thần cho bị cáo, nên bị cáo mới dùng búa đánh vào người Đổng Duy M gây thương tích. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,e,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nhưng sau khi phạm tội bị cáo đã biết ăn năn hối cải, khắc phục mọi hậu quả, bản thân người bị hại có một phần lỗi, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại, người bị hại không còn yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[5] Về vật chứng: Tang vật vụ án là 01 cây búa đầu búa bằng kim loại, một phần là hình trụ tròn, phần còn lại đầu búa bằng hình chữ V, cán bằng gỗ bọc cao su, chiều dài 33cm, là công cụ K’ B dùng để đánh M, xét thấy không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí:
Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo K’ Biểu phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo K’ B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng a khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b,e,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi năm 2017.
Xử phạt bị cáo K’ B 30 ( ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Được trừ 10 ngày đã tạm giữ trước.
3. Xử lý vật chứng: áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây búa đầu búa bằng kim loại, hình trụ tròn, phần còn lại đầu búa bằng hình chữ V, cán bằng gỗ bọc cao su, chiều dài 33cm hiện đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo K’ B phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựi thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/05/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội cố ý gây thương tích số 12/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 12/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đức Trọng - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về