Bản án về tội cố ý gây thương tích số 12/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 12/2024/HS-ST NGÀY 12/01/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2023/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 30/11/2023 theo quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/HSST-QĐ ngày 13/12/2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Xuân V; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: nam; Sinh năm: 1985, tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Tổ 15, phường P, thành phố C, tỉnh Lai Châu, chỗ ở trước khi bị bắt: Bản C, xã S, thành phố C, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Phạm Xuân V (sinh năm 1956) và con bà Trần Thị T (sinh năm 1952); vợ: Vùi Thị C, sinh năm 1986, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/9/2023 tại Nhà tạm giữ, Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Chị Vùi Thị C, sinh năm 1986 (Có mặt) Địa chỉ: Bản C, xã S, thành phố C, tỉnh Lai Châu.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

- Người làm chứng: Chị Vùi Thị, sinh năm 1982 (có mặt) Địa chỉ: Bản C, xã S, thành phố C, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tối ngày 15/8/2023, Phạm Xuân V ăn cơm tối cùng vợ là Vùi Thị C và hai con là Phạm Khánh L (sinh năm 2008) và cháu Phạm Xuân N (sinh năm 2010) tại nhà của mình ở Bản C, xã S, thành phố C, tỉnh Lai Châu. Sau đó V vào phòng ngủ của mình lấy chai rượu uống một mình. Khoảng 22 giờ cùng ngày, V đi sang phòng chị C ngủ để nói chuyện về việc gia đình, nhưng chị C không đồng ý nói chuyện nên hai người xảy ra mâu thuẫn, to tiếng.

Chị C đi ra phòng khách rồi gọi cháu L, cháu N dậy để cùng đi sang ngủ nhờ nhà chị gái là chị Vùi Thị L nhưng V không cho đi, sau đó V và chị C tiếp tục to tiếng, cãi nhau, có những lời nói xúc phạm nhau nên V đã dùng tay phải tát một cái vào mặt bên trái của chị C, khiến chị C choáng váng, ngã xuống nền nhà. Sau đó V, dùng chân phải đạp mạnh hai cái liên tục vào vùng bụng bên phải của chị C. Lúc này, cháu N và cháu L vào can ngăn thì V đẩy 3 mẹ con ra ngoài sân trước phòng khách. Tại đây, V tiếp tục dùng chân phải đạp mạnh hai cái vào vùng bụng phía bên phải của chị C, một cái vào vùng lưng của chị C và dùng tay phải đấm một cái vào người chị C, sau đó V đi vào trong nhà rồi khóa cửa lại. Trong suốt quá trình V đánh chị C, chị C không kịp phản kháng hay chống cự gì.

Khoảng 15 phút sau, V ra mở cửa thì thấy chị C kêu đau ở vùng bụng nên V để chị C và các con vào trong nhà.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, chị C được chị gái là Vùi Thị L đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu, sau khi khám các bác sỹ phải phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn thận bên phải của chị C do bị vỡ thận độ IV.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Xuân V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, bị cáo và bị hại khẳng định trước khi xảy ra sự việc giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn lớn.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 141/KLTTCT-TTPYLC ngày 11/9/2023 của Trung tâm giám định Pháp y – Sở Y tế tỉnh Lai Châu, kết luận:

1. Các kết luận chính:

- Cắt lớp vi tính ổ bụng: Hình ảnh không thấy thận phải;

- Siêu âm ổ bụng: Hình ảnh khuyết thận phải;

- Siêu âm hệ tiết niệu: Hình ảnh không quan sát thấy thận phải trên siêu âm hệ tiết niệu 2. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vùi Thị C tại thời điểm giám định là 45% (Bốn mươi lăm phần trăm).

Các vấn đề khác của vụ án:

Bản Cáo trạng số 73/CT - VKSTP ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Phạm Xuân V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản Cáo trạng nêu trên.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi và tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát thay đổi quan điểm truy tố bị cáo về điểm khoản truy tố bị cáo từ điểm a khoản 2 sang điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, do hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân V từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Xuân V, bị hại Vùi Thị C không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu.

Lời nói sau cùng: bị cáo Phạm Xuân V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Trên cơ sở lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào tối ngày 15/8/2023 tại nhà của Phạm Xuân V và vợ là chị Vùi Thị C ở bản Bản C, xã S, thành phố C, tỉnh Lai Châu, vì mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, Phạm Xuân V đã tát chị C khiến chị C choáng váng ngã xuống nền nhà, rồi V dùng chân phải đạp 02 phát liên tục vào vùng bụng bên phải của chị Vùi Thị C, dù được các con can ngăn nhưng khi đẩy 03 mẹ con chị C ra khỏi phòng khách tại sân trước nhà V tiếp tục đạp 02 phát vào vùng bụng bên phải của chị C, 01 phát vào lưng và đấm vào người chị C. Quá trình bị V đánh chị C không kịp chống cự gì. Hậu quả khiến cho chị C bị dập thận phải độ IV và phải cắt bỏ hoàn toàn thận bên phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị C là 45%. Hành vi của bị cáo V, vi phạm vi phạm nghiêm trọng đến nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân gia đình; vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình quy định tại điều 5 Luật phòng, chống bạo lực gia đình, cho thấy ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khoẻ của chính người mà bị cáo phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, thể hiện tính côn đồ, hung hãn.

Bị cáo Phạm Xuân V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, hơn nữa, ý thức được điều đó nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy: Hành vi của bị cáo Phạm Xuân V cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, điều khoản này quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các 06 tháng đến 03 năm:

i,Có tính chất côn đồ;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

c,Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Phạm Xuân V có nhân thân tốt.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động đến người thân trong gia đình khắc phục hậu quả về hành vi của mình đã gây ra cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét

[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên thay đổi quan điểm truy tố đối với bị cáo là phù hợp với tính chất hành vi bị cáo đã thực hiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 135, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân V 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/9/2023.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 12/2024/HS-ST

Số hiệu:12/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lai Châu - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về