TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 11/2024/HS-PT NGÀY 28/02/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXPT ngày 20/01/2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2024/HSPT-QĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sơn La.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Văn H, sinh năm 2002 tại huyện A, tỉnh B; nơi cư trú: tiểu khu D, xã E, huyện F, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hoá: 12/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Văn C và bà Trương Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/10/2020 Công an huyện F, tỉnh Sơn La ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
- Bị hại: Anh Lò Văn Q, sinh ngày 08/9/2006, trú tại: Bản S, xã Đ, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vì Thị N, sinh năm 1975, trú tại: Bản S, xã Đ, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1963, trú tại: tiểu khu D, xã E, huyện F, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1997, trú tại: Tiểu khu 3, thị trấn L, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Lò Văn T, sinh năm 1999, địa chỉ: Tiểu khu 8, thị trấn L, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
2. Đỗ Văn P, sinh năm 2002, địa chỉ: Tiểu khu M2 Ban, thị trấn B, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
3. Hoàng Thị M2, sinh năm 2001, địa chỉ: Tiểu khu 6, thị trấn Z, huyện F, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
4. Bùi Thị M3, sinh năm 2001, địa chỉ: tiểu khu D, xã E, huyện F, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
5. Vì Văn K2 , sinh ngày 05/3/2005, trú tại: Bản S, xã Đ, huyện G, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ sáng ngày 28/8/2023, Đỗ Văn H, sinh năm 2002, trú tại tiểu khu D, xã E, huyện F, tỉnh Sơn La đến quán ăn đêm của Nguyễn Văn K tại tiểu khu 3, thị trấn L, huyện G, tỉnh Sơn La để ăn đêm cùng với Lò Văn T, Hoàng Thị M2, Bùi Thị M3, Đỗ Văn P. Trong lúc đang ngồi ăn thì Đỗ Văn H thấy Lò Văn Q, Vì Văn K2 sang mời rượu. Giữa Q và T xảy cãi chửi nhau và giằng co nhau chiếc áo, H thấy T đứng dậy dùng cùi trỏ tay phải đánh vào mặt của Q một phát, lúc đó K2 đứng dậy nên H và P mỗi người cầm một chiếc bát con bằng sứ. H ném chiếc bát về phía K2 nhưng không trúng, P cũng ném chiếc bát về phía K2 thì trúng vào người. Trong lúc H ném chiếc bát về phía K2 đã xô đẩy vào người của Q khiến Q ngã xuống đất, thấy vậy H liền dùng chân phải đạp một phát vào mặt Q, rồi cầm một chiếc ghế nhựa màu đỏ ở tay phải vụt liên tiếp hai phát vào mặt, người của Q. Sau đó mọi người vào can ngăn nên H không đánh Q nữa mà đi về nhà của H.
Lò Văn Q sau khi bị đánh gây thương tích đã đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa TN từ ngày 28/8/2023 đến ngày 05/9/2023 với thương tích chấn thương hàm mặt.
Ngày 18/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Lò Văn Q.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 341 ngày 26/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lò Văn Q tại thời điểm giám định là 21%, cụ thể: “Sẹo vết thương phần mềm vùng trán (xếp: 03%); Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng trán (xếp: 1,5%); Sẹo vết thương phần mềm vũng mũi (xếp: 03%); Sẹo vết thương phần vùng gò má (xếp: 03%); Sẹo vết thương phần mềm vùng cằm (xếp: 06%); Sẹo vết thương phần gò vùng lưỡi (xếp: 04%); Gẫy một phần răng R1.1, R1.2, R2.2 còn lại, đã xử lý lắp răng giả trước đó (xếp 03%); Hình ảnh tuyến yên tăng kích thước là do bệnh lý nên không xếp loại tỷ lệ phần trăm”.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G tiến hành khám nghiệm hiện trường. Xác định nơi xảy ra vụ việc là quán ăn đêm của Nguyễn Văn K, tại số nhà 02, tiểu khu 3, thị trấn L, huyện G. Trong quán kê 03 dãy bàn ăn, mỗi dãy có 04 bàn bằng kim loại, mặt bàn bằng gỗ và tre, xung quanh kê ghế nhựa màu đỏ. Vị trí nơi xảy ra vụ việc là bàn số 03 dãy đầu tiên từ cửa quán vào, bàn có kích thước 0,8 x 1,2 x 0,7m, xung quanh kê ghế nhựa nhãn O kích thước 0,25 x 0,25 x 0,45cm. Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ các mảnh bát bằng sứ màu trắng, các mảnh ghế nhựa màu đỏ không rõ hình dạng, do Nguyễn Văn K giao nộp.
Ngày 26/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G định giá 01 chiếc bát sứ và 01 chiếc ghế nhựa nhãn O bị hư hỏng.
Tại kết luận định giá tài sản số: 39/KL ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G định giá 01 chiếc bát sứ trị giá 10.000 đồng, 01 chiếc ghế nhựa nhãn O trị giá 60.000 đồng. Nguyễn Văn K không yêu cầu Đỗ Văn H phải bồi thường.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 230/CT-VKS ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Sơn La đã truy tố Đỗ Văn H về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, Sơn La đã Quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134;
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện X còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định chung của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những người thạm gia tố tụng khác trong vụ án nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo; Viện kiểm sát không có kháng nghị.
Ngày 13/12/2023 bị cáo Đỗ Văn H có đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sơn La với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Đỗ Văn H kháng cáo đúng chủ thể, kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.
Về nội dung kháng cáo: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, hành vi phạm tội cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên nhận thấy: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện X đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và căn cứ đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và đơn đề nghị mong các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số:
46/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Sơn La theo hướng giảm một phần hình phạt cho bị cáo Đỗ Văn H (cụ thể là xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích); các quyết định khác của bản án mà Toà án cấp sơ thẩm tuyên không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.
- Bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, nhất trí với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/12/2023 bị cáo Đỗ Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của tham gia tố tụng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 292; khoản 3 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 28/8/2023 do xảy ra xô xát nhỏ nên bị cáo Đỗ Văn H đã sử dụng chân đạp vào mặt, dùng ghế nhựa là vật cứng đánh vào đầu và mặt bị hại Lò Văn Q gây thương tích cho Lò Văn Q với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21%, hành vi của bị cáo Đỗ Văn H đã vi phạm tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Văn H về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm). Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 04 năm tù là có phần nghiêm khắc.
[4] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo: Bản án Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá, xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo Đỗ Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và đơn đề nghị mong các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần mở lượng khoan hồng của Nhà nước, giảm một phần hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với cộng đồng và gia đình. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H và quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La; sửa bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện G về mức hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn H.
[5] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có H lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H; sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 46/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sơn La, như sau:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
2. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Đỗ Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có H lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có H lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (28/02/2024).
Bản án về tội cố ý gây thương tích số 11/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 11/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về