Bản án về tội cố ý gây thương tích số 05/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 05/2024/HS-ST NGÀY 27/02/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Minh C (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 08-6-2001 tại huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị T; anh em có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến nay, bị cáo có mặt.

Bị hại:

- Anh Đỗ Duy K1, sinh ngày 02-3-2005. Nơi cư trú: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Em Đỗ Thiên B, sinh ngày 14-12-2009. Nơi cư trú: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho em B: Bà Phùng Thị Ngọc M, sinh năm 1958. Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Chau Si N, sinh ngày 04-4-2006; Nơi cư trú: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Huỳnh Tấn Đ1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Ôn Thế A (Tên gọi khác: Chi P), sinh năm 1997; Nơi cư trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 2005. Nơi cư trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Võ Văn T1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Phương Bảo G, sinh năm 1991. Nơi cư trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Những người làm chứng:

- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1978, vắng mặt;

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 20-7-2023, Võ Văn T1 uống rượu cùng Chau Si N, Huỳnh Tấn Đ1, Lê Minh C, Nguyễn Văn Bảo Q, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Hữu H và Nguyễn Phương Bảo G tại nhà của T1, ngụ khóm E, thị trấn T, huyện T, thì bị một nhóm người (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ném bom xăng, gạch đá vào nhà T1, rồi lên xe mô tô bỏ chạy. Cả nhóm tiếp tục ngồi uống rượu được một lúc, Võ Văn T1 nằm ngủ, Đ1 đi về nhà, Q nói với N, T3, H, G và C “Ngày mai, ai có đồ đem đến cất ở chuồng gà nhà ba vợ T1 để thủ, nếu tụi nó quay lại thì chơi với tụi nó luôn”, mọi người không nói gì và uống rượu xong thì nghỉ.

Khoảng 19 giờ ngày hôm sau 21-7-2023, Võ Văn T1 điện thoại rủ Đ1, Thế A, G, Q, N, H và C lại nhà uống rượu, thì N mang theo 01 cây dao tự chế cất giấu ở bụi cỏ cạnh chuồng gà, H mang theo 01 cây dao tự chế cất giấu ở phía trong chuồng gà nhà T1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N chạy xe đi mua thêm rượu, thấy hai anh em Đỗ Duy K1 và Đỗ Thiên B đậu xe mô tô trước tiệm tạp hoá mua đồ, N nghĩ đây là nhóm người ném bom xăng hôm trước nên vô nhà T1 nói “Mấy anh chị ơi tụi nó kéo lại kìa”, nói xong N, Đ1, Thế A mỗi người cầm 01 cây dao tự chế chạy ra trước, còn C, H, Q cũng cầm hung khí chạy theo sau. Khi gần đến tiệm T5 khóm E, thị trấn T, huyện T, Đ1 thấy Nguyễn Ngọc T4 chạy xe mô tô ngang, Đ1 chặn xe lại, dùng dao tự chế chém 01 nhát từ trên xuống vào mũ bảo hiểm của Ngọc T4 làm ngã xe, Ngọc T4 bỏ chạy. Thấy K1 đậu xe gần đó, Thế A đến dùng chân đạp K1 làm ngã xe, Đ1 cầm dao tự chế chém 02 nhát về phía K1 nhưng không trúng, K1 quay lưng bỏ chạy thì bị N dùng dao tự chế bằng kim loại chém 01 nhát vào vùng lưng trái gây thương tích. Bị chém, K1 bỏ chạy, N thấy H, Q vừa chạy ra nên N cùng H, Q cầm hung khí rượt theo K1, cùng lúc này, Thế A và Đ1 đến chỗ B đang đứng trong tiệm tạp hoá, Thế A ném dao và gạch xuống đất, rồi Thế A cùng Đ1 dùng tay, chân đánh, đạp nhiều cái vào vùng vai trái và bụng của B gây thương tích, C cũng xông vào dùng dao tự chế chém B nhiều nhát từ trên xuống, B đưa tay trái đỡ làm bị thương cẳng tay. Sau đó, Văn T1 và G chạy ra cho biết đánh nhằm người nên can ngăn không cho mọi người đánh B, sau đó cả nhóm ném bỏ hung khí và vào lại nhà của Võ Văn T1.

K1 và B được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2. Sau khi gây án, N, Đ1 và Thế A ra đầu thú.

Ngày 23-10-2023, C bị khởi tố, truy nã và quyết định tách vụ án. Đến ngày 20-11-2023, C ra đầu thú, bị tạm giam để điều tra.

Riêng N, Đ1, Thế A đã bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử theo bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HSST ngày 22-12-2023.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 526 ngày 19-9-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Đỗ Duy K1, sinh năm 2005, kết luận:

Sẹo vùng hông lưng trái, kích thước (12 x 0,4) cm, nằm hơi xiên, sẹo lồi - lõm, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn: thấu ngực, tràn khí - tràn máu màng phổi trái, đã phẫu thuật dẫn lưu màng phổi trái. Sẹo dẫn lưu ngực trái khoang liên sườn IV - V đường nách sau, kích thước (2,5 x 0,5) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%, thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 527 ngày 19-9-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Đỗ Thiên B, sinh năm 2009, kết luận:

- Sẹo má trái, nằm xiên, kích thước (03 x 0,2) cm, sẹo hơi lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%.

- 03 vết xây xát da lạng thẳng vùng lưng trái, nằm song song:

+ Vết 1: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.

+ Vết 2: để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (04 x 0,1) cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,5%.

+ Vết 3: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.

- 03 vết xây xát da lạng thẳng mặt trước ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái, nằm song song:

+ Vết 1: để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (3,5 x 0,1) cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,5%.

+ Vết 2: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.

+ Vết 3: hiện tại không còn thương tích, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 00%.

- Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, nằm xiên, kích thước (04 x 0,2) cm, sẹo hơi lồi, màu hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 01%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên 05%, thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

Căn cứ kết luận giám định số 372 ngày 04/10/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh A kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép trên 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.

Trích xuất 59 ảnh từ dữ liệu 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Minh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 05/CT-VKSTT.HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Lê Minh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Minh C đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo C thật thà khai báo, tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Minh C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HSST ngày 22-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HSST ngày 22-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn nên không xem xét.

Đối tượng Nguyễn Văn Bảo Q có hành vi cầm hung khí chạy ra sau khi K1 đã bị chém gây thương tích, cầm hung khí rượt đuổi K1. Hiện Q không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Riêng, Nguyễn Hữu H, Võ Văn T1, Nguyễn Phương Bảo G có hành vi cầm hung khí chạy ra sau nhưng không gây thương tích cho bị hại, T1 và G ngăn cản mọi người gây thương tích cho B. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Bị cáo, bị hại không tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Minh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 21-7-2023, tại khu vực khóm E, thị trấn T, huyện T, bị cáo C cùng đồng phạm Chau Si N, Ôn Thế A, Huỳnh Tấn Đ1 đã dùng dao tự chế, dùng tay chân đá, đạp gây thương tích cho Đỗ Duy K1 với tỷ lệ thương tích là 13 %; Đỗ Thiên B với tỷ lệ thương tích là 05%. Chỉ đã giúp sức về tinh thần và cùng các đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích cho K1 và B nên bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm với hậu quả do hành vi bị cáo và các đồng phạm đã gây ra. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, do dao tự chế mà bị cáo cùng các đồng phạm sử dụng gây thương tích cho K1 và B là loại hung khí nguy hiểm, hơn nữa giữa các bị cáo với bị hại không có mâu thuẫn trước và cũng chưa quen biết nhau, lại vô cớ gây thương tích nên hành vi của các bị cáo mang tính chất côn đồ, bị cáo thực hiện hành vi chém B khi B chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo và các đồng phạm là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của các bị hại mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải có mức chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cùng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, sau khi phạm tội đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội mặc dù bỏ trốn nhưng sau đó đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại: Đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HSST ngày 22-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý trong bản án hình sự sơ thẩm số 58 ngày 22-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn nên không xem xét.

Đối tượng Nguyễn Văn Bảo Q có hành vi cầm hung khí chạy ra rượt đuổi K1 sau khi K1 đã bị chém gây thương tích. Hiện Q không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Riêng, Nguyễn Hữu H, Võ Văn T1, Nguyễn Phương Bảo G có hành vi cầm hung khí chạy ra sau nhưng không gây thương tích cho bị hại, T1 và G ngăn cản mọi người gây thương tích cho B. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Minh C (Tên gọi khác: D) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20-11-2023 (ngày hai mươi tháng mười một năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Bị cáo Lê Minh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

74
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 05/2024/HS-ST

Số hiệu:05/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về