Bản án về tội cố ý gây thương tích số 01/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 01/2024/HS-ST NGÀY 19/01/2024 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 19 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/QĐXXST-HS ngày 04/01/2024 đối với bị cáo:

Kp L, sinh năm 2002 tại A, G; nơi cư trú: Bôn R, xã I, thị xã A, G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông R Ô T và bà Kp H’T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nay D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Ksor T, sinh năm 2004. Vắng mặt. Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

2. Anh Ksor H, sinh năm 2007. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho Ksor H: Bà Ksor H’P, sinh năm 1965 (Mẹ ruột). Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

3. Ông Rơ Ô T, sinh năm 1980. Có mặt.

Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

4. Bà Nay H’N, sinh năm 1988. Có mặt. Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

- Người làm chứng:

1. Anh K, sinh năm 2006. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông R, sinh năm 1980 (Bố ruột). Có mặt.

Cùng địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

2. Anh Rơ Ô K, sinh năm 1995. Có mặt.

Địa chỉ: Bôn S, xã Ia R, thị xã A, tỉnh G.

3. Anh Ksor S, sinh năm 2006. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ksor H’Y (Mẹ ruột). Có mặt. Cùng địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

4. Anh Nay T, sinh năm 2007. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nay H’L (Mẹ ruột). Có mặt. Cùng địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

5 Anh Ksor N, sinh năm 2002. Có mặt.

Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

6 Chị Ksor H’M, sinh năm 1980. Có mặt. Địa chỉ: Bôn R, xã I, thị xã A, tỉnh G.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu H. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ 10, phường Đoàn Kết, thị xã A, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 09/7/2023, Kpă L, Rơ Ô K (SN: 1995, trú tại: Bôn S, xã I, A, G) và Ksor T (SN: 2004, trú tại: Bôn Rưng Ama Nhiu, xã Ia Rbol, Ayun Pa, G) đến quán tạp hóa của anh Trần Thanh P (SN: 1974, trú tại B, xã Ia R, A, G) để nhậu. Bàn bên cạnh có Kpă R (SN 2006), Ksor H (SN 2007), Ksor S (SN 2006), Nay T (SN 2007) cùng trú tại Bôn R, xã Ia R, A, G. Sau đó, Nay Duy chở theo Ksor N (SN 2002) cùng trú tại Bôn R Nin, xã Ia R, A, G đến nhậu ngồi cùng bàn với Kpă L. Trong lúc nhậu giữa Kpă R và Nay D phát sinh mâu thuẫn đòi đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn. Kpă R được mọi người dẫn về nhà nhưng vẫn tiếp tục thách thức, khiêu khích D. Lúc này, D đứng dậy định qua nhà đánh Rian thì được Ksor T can ngăn nhưng D vẫn tiếp tục thách thức. Tango bực tức vì can ngăn không được nên dùng tay phải vòng qua cổ và quật ngã D xuống đường bê tông, đồng thời dùng tay phải đấm 01 cái vào má phải của D. Thấy vậy, Ksor H lao đến dùng chân phải đá 01 cái vào hông phải của D. Sau khi Tango, H đánh xong thì Kpă L nhặt 01 viên gạch 03 lỗ (loại gạch 06 lỗ bị vỡ) trên đường ném trúng vào đầu của Nay D. Thấy D chảy máu thì L, T, H bỏ đi. Sau đó, mọi người đưa D đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã Ayun Pa rồi chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh G điều trị từ ngày 09/7/2023 đến ngày 17/7/2023 thì ra viện.

Tại Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số 415/KLTTCT-TTPY ngày 15/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận Nay Duy bị tỷ lệ thương tổn do thương tích gây ra gồm:

1. Các kết quả chính:

- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng chẩm phải.

- 01 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái.

- 01 sẹo vết thay đổi sắc tố da vùng gò má phải.

- 01 sẹo vết thay đổi sắc tố da vùng gò má trái - Chấn thương sọ não gây vỡ lún xương đỉnh phải kích thước 12,5cm, điện não không ổ tổn thương tương ứng.

- Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải đã điều trị, tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh phải trên phim CT-Scanner.

2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 32%. Áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT.

* Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.

- Vật gây thương tích:

+ Đối với thương tích sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng chẩm phải và sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái: Phù hợp với sự tác động của vật tày có cạnh. Do vậy, 01 viên gạch đã vỡ được Cơ quan CSĐT Công an thị xã trưng cầu là phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.

+ Đối với thương tích do thay đổi sắc tố da vùng gò má phải và vết thay đổi sắc tố da vùng gò má trái: Phù hợp với sự tác động của vật tày.

Tại Công văn số 111A/CV-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G về tỷ lệ phần trăm từng vết thương:

1. Tách phần trăm từng vết thương của Nay D:

- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng chẩm phải: 2% - 01 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái: 2% - 01 sẹo vết thay đổi sắc tố da vùng gò má phải: 1,5% - 01 sẹo vết thay đổi sắc tố da vùng gò má trái: 1,5% - Chấn thương sọ não gây vỡ lún xương đỉnh phải kích thước 12,5cm, điện não không ổ tổn thương tương ứng: 18% - Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải đã điều trị, tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh phải trên phim CT-Scanner: 11% - Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 32%. Áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT.

2. Trừ 02 vết thương thay đổi sắc tố da vùng gò má phải và gò má trái thì các vết thương còn lại của Nay D:

- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng chẩm phải: 2%.

- 01 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái: 2%.

- Chấn thương sọ não gây vỡ lún xương đỉnh phải kích thước 12,5cm, điện não không ổ tổn thương tương ứng: 18%.

- Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải đã điều trị, tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh phải trên phim CT-Scanner: 11%.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 30%. Áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT.

Vật chứng vụ án:

- 01 viên gạch có 03 lỗ (loại gạch 06 lỗ đã bị vỡ) kích thước (18x12,5x4,5) cm, một lỗ đã bị vỡ kích thước (18x4,5x3,8)cm.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Nay D yêu cầu bị can Kpă L bồi thường tổn thất tinh thần và thu nhập bị mất trong thời gian điều trị với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Kpă L, Ksor Tango, Ksor H đã bồi thường số tiền trên. Hiện nay Nay D không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Kpă L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh G đã truy tố bị cáo Kpă Lvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kpă L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Kpă L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, bị hại không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 viên gạch có 03 lỗ (loại gạch 06 lỗ đã bị vỡ) kích thước (18x12,5x4,5) cm, một lỗ đã bị vỡ kích thước (18x4,5x3,8)cm.

Bị cáo và những người liên quan không có ý kiến tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Việc xâm hại đến sức khỏe người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị. Trong vụ án này, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn.

Bị cáo chứng kiến việc bị hại và một số thanh niên trong thôn đang có xô xát với nhau ngoài đường xuất phát từ việc mọi người can ngăn bị hại không đi đánh nhau với em ruột của bị cáo nữa (Kpă R) nhưng bị hại vẫn còn kích động muốn tiếp tục đi đánh nhau. Bị cáo đã không tham gia vào việc can ngăn bị hại mà lại đã dùng hung khí (01 viên gạch ống 06 lỗ đã bị vỡ một phần) ném trúng đầu bị hại gây thương tích tổn hại 30% sức khỏe. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã gây tổn hại sức khỏe và tinh thần của bị hại, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, do bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì sâu sắc, bị cáo không cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại nên chỉ ném gạch vào đầu bị hại một lần và dừng lại, dù không bị ai ngăn cản. Vì vậy, căn cứ tính chất của tội phạm, tỷ lệ thương tích của bị hại và hung khí bị cáo sử dụng để phạm tội thấy rằng hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh G đã truy tố bị cáo với tội danh và điều, khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Kpă L có nhân thân tốt. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã cùng gia đình chủ động thăm hỏi và xin bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị cho bị hại và được bị hại thông cảm xin giảm nhẹ hình phạt. Với các nội dung nói trên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và làm tốt công tác phòng ngừa chung tại địa phương.

[4] Đối với hành vi của Ksor T và Ksor H đã có hành vi xô xát bằng tay chân, có gây ra thương tích nhẹ cho bị hại liền trước khi bị cáo gây thương tích cho bị hại vào ngày 09/7/2023. Tuy nhiên, do hành vi của T và H không có đồng phạm với bị cáo nên cơ quan điều tra đã chuyển Công an thị xã Ayun Pa xử phạt hành chính đối với hai người này là đúng pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nay D không còn yêu cầu gì khác đối với bị cáo về bồi thường thiệt hại về sức khỏe nên HĐXX không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 viên gạch có 03 lỗ (loại gạch 06 lỗ đã bị vỡ) kích thước (18x12,5x4,5) cm, một lỗ đã bị vỡ kích thước (18x4,5x3,8)cm. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án hiện không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã Ayun Pa và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Kpă L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên xử:

Phạt bị cáo Kpă L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 viên gạch có 03 lỗ (loại gạch 06 lỗ đã bị vỡ) kích thước (18x12,5x4,5) cm, một lỗ đã bị vỡ kích thước (18x4,5x3,8)cm.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ayun Pa và Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã A)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Kpă L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/01/2024 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

159
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 01/2024/HS-ST

Số hiệu:01/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ayun Pa - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về