TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 24/2024/HS-ST NGÀY 15/01/2024 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM VÀ MÔI GIỚI MẠI DÂM
Ngày 15/01/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm C1 khai vụ án hình sự thụ lý số 399/2023/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 414/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: P0812B I4 Vinhome Smart City, phường Tây M, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội; Hiện tạm trú tại: Thôn x, xã Sơn G, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Quản lý nhà nghỉ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn C; Con bà: Phan Thị T; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; Có 1 con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Theo Danh chỉ bản số 445 lập ngày 08/06/2023 tại C1 an quận Nam Từ Liêm.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 26/07/2023 được huỷ bỏ biện pháp tạm giam. Bị cáo tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
2. Giáp Văn T, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn Sơn Đ1, xã Thanh L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lễ Tân nhà nghỉ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Giáp Văn M; Con bà: Trương Thị T; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 98/2018/HSST ngày 25/5/2018, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về Tội môi giới mại dâm. Ra trại ngày 01/7/2020 (Đã dược xóa án tích). Theo Danh chỉ bản số 446 lập ngày 08/06/2023 tại C1 an quận Nam Từ Liêm.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - C1 an TP Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
3. Đàm Minh T, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Số 79/16 Thái T, phường Thịnh Q, quận Đống Đa, TP Hà Nội; Tạm trú tại: P2705 CT4 Booyoung, Mỗ L, Hà Đông, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đàm Quốc T; Con bà: Đỗ Thị T, Có chồng là Ngô Văn M, Trần Văn C và Nguyễn Trung A (Đều đã ly hôn); Có 3 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Theo Danh chỉ bản số 448 lập ngày 08/06/2023 tại C1 an quận Nam Từ Liêm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 07/06/2023 huỷ quyết định tạm giữ, bị cáo tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1992: Đăng ký HKTT: Thôn x, xã E, huyện Krong Pak, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt;
2. Anh Nghiêm Xuân K, sinh năm 1990, đăng ký HKTT: Số xx, Giáp N, tổ 6 phường Nhân C, quận Thanh Xuân, Hà Nội- Vắng mặt;
3. Chị Lò Thị S, sinh năm 2001, đăng ký HKTT: Bản X, xã Pá K, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên- Vắng mặt;
4. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 2001, đăng ký HKTT: Thôn Trung T1, xã Thành L, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang- Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T và Đàm Minh T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 29/5/2023, tổ C1 tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - C1 an quận Nam Từ Liêm tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ Nam L (Địa chỉ tại số xx/6 Miếu Đ, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) phát hiện tại phòng 403 có Phạm Thị N (Sinh năm 1992; HKTT: E, Krông Pắc, Đắk Lắk) và Đỗ Hữu C (Sinh năm 1996; HKTT: Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm, Hà Nội); Tại phòng 501 có Lò Thị T (Sinh năm 2001; HKTT: Phồng Lãi, Thuận Châu, Sơn La) và Nghiêm Xuân K (Sinh năm 1990; HKTT: Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội); Tại phòng 502 có Lò Thị S (Sinh năm 2001; HKTT: Pá Khoang, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) và Nguyễn Xuân M (Sinh năm 1980; HKTT: Phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội); Tại phòng 503 có Đàm Minh T (Sinh năm 1981; HKTT: Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội) và Cồ Việt T1 (Sinh năm 1983; HKTT: Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội); Tại phòng 603 có Hoàng Thị H (Sinh năm 2001; HKTT: Thành L, Hàm Yên, Tuyên Quang) và Trần T1 Anh (Sinh năm 1990; HKTT: Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội) đang có hành vi mua bán dâm. Tại phòng 701 có Hoàng Thị Phượng (Sinh năm 1990; HKTT: Gia Hội, thành phố Huế), Nguyễn Thị Năm (Sinh năm 1991; HKTT: Yên Định, Bắc Mê, Hà Giang); phòng 702 có Bùi Thị H1 (Sinh năm 1991; HKTT: Mỹ Lương, Chương Mỹ, Hà Nội), Hà Thị Liên (Sinh năm 1995; HKTT: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh); tại phòng 703 có Nguyễn Thị Hồng (Sinh năm 1989; HKTT: Đắk N’Drung, Đắk Song, Đắk Nông), Phạm Bích Ngọc (Sinh năm 1983; HKTT: Tràng Đà, Tuyên Quang) là gái bán dâm, thuê phòng để chờ mua bán dâm tại nhà nghỉ. Tại phòng 601 có Nguyễn Phú T3 (Sinh năm 1991; HKTT: PH Xá, Thạch Thất, Hà Nội); tại phòng 402 có Vũ Thanh H2 (Sinh năm 1995; HKTT: Gia Phú, Gia Viễn, Ninh Bình) là khách đến nhà nghỉ chờ mua dâm. Tại phòng 303 có Nguyễn Thị H1 (Sinh năm 1985; HKTT: Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc) là gái đến thuê phòng để chờ khách mua dâm đến. Qua đấu tranh các đối tượng đều khai nhận đang thực hiện hành vi mua bán dâm hoặc chờ mua bán dâm. Cơ quan điều tra đã đưa các đối tượng về trụ sở C1 an quận Nam Từ Liêm để điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Phạm Thị N: 1.500.000 đồng; 01 bao cao su đã qua sử dụng;
- Thu giữ của Nghiêm Xuân K: 300.000 đồng;
- Thu giữ của Đàm Minh T: 1.500.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 Promax gắn sim 0373243XXX;
- Thu giữ của Lò Thị Sỹ: 300.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng;
- Thu giữ của Hoàng Thị H: 500.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định:
Từ khoảng tháng 4/2022, Nguyễn Văn Đ được vợ chồng anh Nguyễn Ngọc Hiển (Sinh năm 1971, HKTT: Ngọc T, L Biên, Hà Nội) và chị Nguyễn Thị Mai S (Sinh năm 1983; HKTT: Ngọc T, L Biên, Hà Nội) là chủ nhà nghỉ đã giao toàn quyền quản lý hoạt động nhà nghỉ Nam L. Hàng ngày, Đ sẽ báo cáo thu nhập của nhà nghỉ và chuyển tiền thu được cho chị S. Sau đó, anh Hiển chuyển tên hộ đăng ký kinh doanh sang cho anh Bùi Văn H (Sinh năm 1995; HKTT: xã Kim B, huyện Kim B, tỉnh Hòa Bình) là nhân viên phụ trách quét dọn tại nhà nghỉ, mục đích để anh H xử lý C1 việc tại nhà nghỉ, nhưng thực chất nhà nghỉ vẫn thuộc sở hữu của anh Hiển và chị S. Khoảng tháng 10/2022, Đ thấy hoạt động của nhà nghỉ thua lỗ nên đã đề xuất anh Hiển chị S cho khách thuê phòng theo tháng và được đồng ý. Cuối tháng 10/2022, có 1 phụ nữ đến thuê phòng 701 theo tháng với giá 3.000.000 đồng, Đ đồng ý. Khoảng 10 ngày sau đó, Đ nhận thấy người phụ nữ thuê phòng là gái bán dâm do thường xuyên có khách nam đi một mình đến thuê phòng rồi người phụ nữ này đi từ phòng 701 xuống phòng khách thuê. Khoảng nửa tháng sau, Đ thấy người phụ nữ này rủ thêm nhiều cô gái khác đến ở cùng để hoạt động mua bán dâm nên đã sắp xếp để tất cả ở thuê các phòng tại tầng 7. Các gái bán dâm sẽ tự đăng bài tìm khách trên mạng xã hội, thỏa thuận giá cả với nhau và hẹn khách đến nhà nghỉ Nam L để hoạt động mua bán dâm. Đ không tham gia môi giới bán dâm, chỉ thu tiền phòng thuê của gái mại dâm là 3.500.000 đồng/ phòng, ngoài ra không thu phí nào khác. Đ thấy việc gái bán dâm đến ở và hoạt động tại nhà nghỉ giúp nhà nghỉ Nam L có doanh thu cao hơn nên Đ bỏ mặc cho tất cả hoạt động, Đ chỉ thu tiền phòng nghỉ theo giờ của khách.
Cũng từ khoảng tháng 10/2022, Giáp Văn T làm lễ tân cho nhà nghỉ Nam L. Đến tháng 11/2022 thì Triệu Văn C (Sinh năm 2000; HKTT: Miếu Đầm, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) cũng đến nhà nghỉ Nam L xin làm lễ tân. Nhiệm vụ của Thái và C là sắp xếp phòng cho khách đến thuê nghỉ theo giờ, hàng tháng được hưởng lương lễ tân là 6.000.000 đồng, cả 2 chia ca làm việc 12 giờ/ ngày. Quá trình làm việc, Thái và C thấy các khách nam đi 1 mình đến thuê phòng theo giờ và thấy các cô gái thuê phòng ở tầng 7 xuống đi vào phòng của các khách nam trên, lúc sau khách nam xuống trả phòng, còn các cô gái quay lại tầng 7. Thái nhận thấy đây là gái đến bán dâm và khách nam đến thuê phòng là người mua dâm nên đã báo lại sự việc cho Đ nhưng Đ bảo Thái làm việc và thu tiền phòng của khách như bình thường, ngoài ra Thái không được hưởng lợi nào khác.
Khoảng 12 giờ 00 ngày 29/5/2023, Đỗ Hữu C1 và Cồ Việt T1 khi đang ngồi uống nước ở đường Mỹ Đình, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội thì nảy sinh ý định mua dâm. C1 vào mạng xã hội tìm gái bán dâm thì thấy thông tin của Đàm Minh T có bán dâm ở nhà nghỉ Nam L nên đã nhắn tin vào Zalo số điện thoại 0373243XXX của T2. Khi C1 đang nói chuyện mua bán dâm với T2 thì T1 lấy điện thoại của C1, nhắn tin bảo T2 gọi thêm 1 gái bán dâm nữa cho T1, T2 đồng ý và thỏa thuận giá bán dâm là 1.200.000 đồng/ người/ 1 tiếng. Sau đó, Đàm Minh T rủ Phạm Thị N (Là gái bán dâm ở cùng phòng 703) bán dâm cho khách, Nga đồng ý.
Đến 13 giờ 30 cùng ngày, C1 và T1 đến nhà nghỉ Nam L để lấy phòng, Đàm Văn Thái là lễ tân đang trực ca đã sắp xếp cho C1 ở phòng 403, T1 ở phòng 503. Sau đó, T1 đưa cho C1 1.500.000 đồng, mục đích để C1 trả tiền mua dâm cho cả 2 người là 3.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C1 nhắn tin cho T2 hẹn vào phòng 503, còn Nga vào phòng 403. Sau khi bán dâm, Nga nhận được số tiền 3.000.000 đồng mà C1 đưa cho rồi đưa lại cho T2 số tiền 1.500.000 đồng tiền bán dâm.
Cùng ngày, ngoài việc xếp phòng 403 cho Đỗ Hữu C1 với Phạm Thị N và phòng 503 cho Cồ Việt T1 với Đàm Minh T, thì Giáp Văn T còn xếp phòng cho các khách khác đi riêng lẻ đến mua dâm ở phòng 501 là Lò Thị Th và Nghiêm Xuân K, ở phòng 502 là Lò Thị S và Nguyễn Xuân M, ở phòng 603 là Hoàng Thị H và Trần T1 Anh; Phòng 402 có Vũ Thanh H2 và phòng 601 có Nguyễn Phú T3 là khách đến nhà nghỉ Hoàng L để chờ mua dâm; Nguyễn Thị H1 ở phòng 303 là gái đến thuê phòng để chờ khách mua dâm đến. Khi các đôi đang thực hiện hành vi bán dâm thì bị Tổ C1 tác C1 an quận Nam Từ Liêm phát hiện bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng mua dâm khai nhận đã tự tìm thông tin gái bán dâm trên mạng rồi hẹn đến nhà nghỉ Nam L để quan hệ tình dục.
Ngày 09/8/2023, C1 an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Cồ Việt T1, Trần T1 Anh, Đỗ Hữu C1, Nghiêm Xuân K, Nguyễn Xuân M về hành vi “mua dâm” theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ, mức phạt là 1.500.000 đồng/ 01 người; Xử phạt Phạm Thị N, Lò Thị Th, Lò Thị S, Hoàng Thị H về hành vi “bán dâm” theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ, mức phạt là 400.000 đồng/ 01 người.
Đối với Bùi Văn H đứng tên đăng ký kinh doanh của nhà nghỉ Nam L, quá trình điều tra xác định H là nhân viên quét dọn trong nhà nghỉ, không tham gia điều hành, quản lý nhà nghỉ. Do H không biết sự việc mua bán dâm tại nhà nghỉ nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý. Ngày 09/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C1 an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn H về hành vi Không thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, lưu trữ thông tin của khách hàng đến lưu trú theo quy định tại điểm m Khoản 2 Điều 12 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, với mức phạt là 3.500.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Ngọc Hiển và chị Nguyễn Thị Mai S là chủ nhà nghỉ Nam L, do đã giao quyền quản lý nhà nghỉ cho Nguyễn Văn Đ, không biết tại nhà nghỉ có hoạt động mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Đối với Triệu Văn C là lễ tân nhà nghỉ, biết sự việc mua bán dâm nhưng khi cơ quan C1 an kiểm tra, C không trực lễ tân, không xếp phòng cho khách mua dâm. Do chưa xác định được khách mua dâm mà C sắp xếp phòng cho thuê trước đó nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu để điều tra làm rõ sau.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T và Đàm Minh T2 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 407/CT-VKS, ngày 29/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T về tội “Chứa mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đàm Minh T về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 4 năm 3 tháng đến 4 năm 9 tháng tù.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giáp Văn T mức án từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Minh Thuý mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 04 bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung C1 quỹ Nhà nước chiếc điện thoại iphone 11 Promax màu xanh và số tiền 4.100.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
[1] Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, tại nhà nghỉ Nam L (Địa chỉ tại số 38/6 Miếu Đầm, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T có hành vi Chứa mại dâm cho khách mua dâm và gái bán dâm là Đỗ Hữu C1 với Phạm Thị N, Cồ Việt T1 với Đàm Minh T, Lò Thị Th với Nghiêm Xuân K, Lò Thị S với Nguyễn Xuân M, Hoàng Thị H với Trần T1 Anh.
Cùng ngày, Đàm Minh T đã có hành vi môi giới mại dâm cho Phạm Thị N với Đỗ Hữu C1 với giá 1.500.000 đồng thì bị tổ C1 tác C1 an quận Nam Từ Liêm kiểm tra hành chính, phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.
[2] Hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Giáp Văn T đã đủ yếu tố cấu thành “Tội chứa mại dâm”, các bị cáo thực hiện việc chứa gái bán dâm đối với nhiều người nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Đàm Minh T đã đủ yếu tố cấu thành Tội môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự C1 cộng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy đối với các bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra và cần phải cách ly các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với các bị cáo.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy hai bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T, Đàm Minh Thuý được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Giáp Văn T có 01 tiền án đã được xoá.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ lần đầu bị đưa ra xét xử, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có đóng góp C1 sức trong C1 tác phòng chống covid- 19 trên địa bàn xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh được UBND xã Sơn Giang ghi nhận (BL 396). Quá trình điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để sớm làm rõ nội dung vụ án, Do vậy bị cáo Nguyễn Văn Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt.
Đối với bị cáo Đàm Minh Thuý có hành vi môi giới mại dâm, bị cáo bị truy tố theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghêm trọng, tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
[4] Quá trình điều tra C1 an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Cồ Việt T1, Trần T1 Anh, Đỗ Hữu C1, Nghiêm Xuân K, Nguyễn Xuân M về hành vi “Mua dâm”; Xử phạt Phạm Thị N, Lò Thị Th, Lò Thị S, Hoàng Thị H về hành vi “Bán dâm”; Đối với anh Nguyễn Ngọc Hiển và chị Nguyễn Thị Mai S là chủ nhà nghỉ Nam L, do đã giao quyền quản lý nhà nghỉ cho Nguyễn Văn Đ, không biết tại nhà nghỉ có hoạt động mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý; Đối với Triệu Văn C là lễ tân nhà nghỉ, biết sự việc mua bán dâm nhưng khi cơ quan C1 an kiểm tra, C không trực lễ tân, không xếp phòng cho khách mua dâm. Do chưa xác định được khách mua dâm mà C sắp xếp phòng cho thuê trước đó nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu để điều tra làm rõ sau nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra C1 an quận Nam Từ Liêm có thu giữ:
- Thu giữ của Phạm Thị N: 1.500.000 đồng; 01 bao cao su đã qua sử dụng;
- Thu giữ của Nghiêm Xuân K: 300.000 đồng;
- Thu giữ của Đàm Minh T: 1.500.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 Promax gắn sim 0373243XXX;
- Thu giữ của Lò Thị Sỹ: 300.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng;
dụng.
- Thu giữ của Hoàng Thị H: 500.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử Tổng số tiền thu được là 4.100.000 đồng của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và 01 điện thoại Iphone 11 Promax gắn sim thu của bị cáo Đàm Minh Thuý do liên quan đến vụ án nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước .
04 bao cao su đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án cần tiêu hủy.
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, C1 an quận Nam Từ Liêm, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Chứa mại dâm”.
Tuyên bố bị cáo Đàm Minh T phạm tội “Môi giới mại dâm”.
2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 48 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 26/07/2023.
3. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
-Xử phạt bị cáo Giáp Văn T 60 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2023.
4. Căn cứ khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đàm Minh T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đàm Minh Thuý về Uỷ ban nhân dân phường Mộ Lao, quận Hà Đông, TP Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án mà người được hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
5. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh gắn sim; Số tiền 4.100.000 đồng, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 79 ngày 01/12/2023 giữa C1 an quận Nam Từ Liêm và Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm và theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 ngày 01/12/2023 tại Kho bạc Nhà nước quận Nam Từ Liêm.
- Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T, Đàm Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm C1 khai, các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Giáp Văn T, Đàm Minh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị N, anh Nghiêm Xuân K, chị Lò Thị S, chị Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Bản án về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm số 24/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 24/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 15/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về