TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 44/2025/HS-ST NGÀY 12/08/2025 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2-Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025 LT theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1984 tại tỉnh Kiên Giang.
Nơi đăng thường trú: Ấp B , xã B, huyện H, tỉnh K (nay là ấp B , xã B, tỉnh A).
Nơi sinh sống: Tổ 35, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ (nay là Tổ 35, xã L, tỉnh Đ).
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; CCCD: 091084016xxx ngày 09/11/2022 Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960 (chết); Gia đình 02 anh em, bị cáo là con thứ thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ và con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang từ ngày 05/11/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Long Thành.
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị X, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 35, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ (nay là Tổ 35, xã L, tỉnh Đ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị X là chủ nhà nghỉ Thanh X, địa chỉ tại tổ 35, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ. Vào năm 2022, chị X có thuê B đến làm tại nhà nghỉ với mức lương 5.000.000 đồng/tháng và có hợp đồng lao động, công việc tạp vụ. Đến khoảng tháng 4 năm 2024, chị X chuyển đến sinh sống tại thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh B Dương nên đã giao Nhà nghỉ cho B trông coi, quản lý. Trong quá trình làm tại đây, B có quen biết với Bùi Thị Ánh T (T thuê trọ tại tổ 32, khu cầu Xéo, thị trấn Long Thành, gần nhà nghỉ Thanh X). B và T thường xuyên nhắn tin nói chuyện với nhau, B biết T đến bán dâm tại Nhà nghỉ Thanh X cho khách nhưng không ngăn cản. Hàng ngày T đăng thông tin việc bán dâm lên mạng xã hội qua trang web “gaigu31.tv” để tìm người có nhu cầu mua dâm và hàng tháng T phải trả số tiền 2.500.000 đồng cho tài khoản ngân hàng ACB số 29174xxx do DO TAN TAI làm chủ. Khi có khách mua dâm liên hệ thì sẽ hẹn khách đến Nhà nghỉ Thanh X, khách mua dâm sẽ tự đặt phòng và báo trực tiếp số phòng cho T để đến. Giá mua bán dâm 400.000 đồng/lượt, tiền phòng do khách mua dâm trả.
Vào ngày 05/11/2024, B đồng ý để cho Bùi Thị Ánh T bán dâm cho khách tại Nhà nghỉ Thanh X 02 lần, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 21 giờ 40 phút tại phòng số 114 của Nhà nghỉ Thanh X, T đã bán dâm cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với giá 400.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, trong lúc đối tượng T đang thực hiện hành vi bán dâm tại phòng số 115 Nhà nghỉ trên cho Nguyễn Văn H thì bị lực lượng Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an thị trấn Long Thành kiểm tra bắt quả tang việc cho T bán dâm tại Nhà nghỉ trên.
Vật chứng vụ án:
+ 01 bao cao su (đã qua sử dụng).
+ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A53, màu xám, đã qua sử dụng của B.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng của Bùi Thị Ánh T.
+ Số tiền 800.000 đồng thu giữ của người bán dâm và mua dâm.
Tại bản Cáo trạng số 149/CT-VKSLT ngày 18/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai truy tố bị cáo B về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo B và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo B từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:
+ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A53 của B là phương tiện sử dụng liên quan việc phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng đã qua sử dụng của Bùi Thị Ánh T đã chuyển theo hồ sơ xử lý hành chính theo quy định.
+ Đối với 01 bao cao su (đã qua sử dụng) cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với số tiền 800.000 đồng liên quan việc mua bán dâm, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ áp dụng điều luật:
Bị cáo B là nhân viên quản lý Nhà nghỉ Thanh X từ tháng 4/2024 do chị Trần Thị X làm chủ. Quá trình quản lý nhà nghỉ, bị cáo B quen biết với Bùi Thị Ánh T, bị cáo B biết T thường xuyên vào nhà nghỉ Thanh X bán dâm nhưng không ngăn cản. Vào ngày 05/11/2024, bị cáo B đồng ý để cho T thực hiện hành vi bán dâm cho khách 02 lần tại Nhà nghỉ Thanh X, cụ thể: Lần 1 vào khoảng 21 giờ 31 phút ngày 05/11/2024, T thực hiện hành vi bán dân cho 01 người đàn ông không rõ nhân thân lại lịch tại phòng số 114 của Nhà nghỉ Thanh X với giá 400.000 đồng. Lần 02 vào khoảng 22 giờ 08 phút cùng ngày, T tiếp tục thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Văn H tại phòng số 115 của Nhà nghỉ trên thì bị lực lượng Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an xã thị trấn Long Thành kiểm tra phát hiện bắt quả tang. B không được hưởng lợi từ việc để cho T bán dâm tại Nhà nghỉ Thanh X. Như vậy, bị cáo B có hành vi chứa mại dâm nên bị cáo B đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức, thuần phong mỹ tục và đời sống văn hóa của xã hội. Mặt khác, hành vi này còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng: Không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng:
[6.1Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su (đã qua sử dụng) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành nay là Viện kiểm sát khu vực 2-Đồng Nai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2.
[6.2] Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A53 của bị cáo B theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành nay là Viện kiểm sát khu vực 2-Đồng Nai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2.
[6.3] Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại tài khoản số 67109699xx mở tại Kho bạc nhà nước huyện Long Thành (Ngân hàng trung gian: BIDV Đông Đồng Nai) ngày 19/6/2025.
[7] Về án phí: Bị cáo B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với đối tượng liên quan có hành vi “Môi giới mại dâm”, có tài khoản ngân hàng mang tên DO TAN TAI do Bùi Thị Anh T khai hàng tháng phải chuyển tiền vào tài khoản trên để trả phí đăng tải hình ảnh quảng cáo bán dâm của T, Cơ quan điều tra đã tiến hành yêu cầu Ngân hàng ACB tra cứu thông tin nhưng hiện chưa có kết quả trả lời. Do đó Cơ quan điều tra đã tách hành vi trên để tiếp tục thụ lý giải quyết theo quy định.
[9] Đối với Bùi Thị Ánh T và Nguyễn Văn H có hành vi mua, bán dâm, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo B phạm tội “Chứa mại dâm”.
Xử phạt bị cáo B 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/11/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su (đã qua sử dụng) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành nay là Viện kiểm sát khu vực 2-Đồng Nai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2.
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A53 của bị cáo B theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành nay là Viện kiểm sát khu vực 2- Đồng Nai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2.
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại tài khoản số 67109699xx mở tại Kho bạc nhà nước huyện Long Thành (Ngân hàng trung gian: BIDV Đông Đồng Nai) ngày 19/6/2025.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội chứa mại dâm số 44/2025/HS-ST ngày 12/08/2025
| Số hiệu: | 44/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bom - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/08/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về