Bản án về tội chứa mại dâm số 33/2025/HS-PT ngày 12/09/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 33/2025/HS-PT NGÀY 12/09/2025 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2025, đối với các bị cáo Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Lê Văn C, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị).

Bị cáo có kháng cáo:

1. Đoàn Văn Đ, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (trước đây là thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cũ); nghề nghiệp: Chủ cơ sở massage REX, SAM; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C2 và bà Ngô Thị H1; có vợ Đỗ Thị M1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh; đến ngày 20/12/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Thị M, tên gọi khác: không, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (trước đây là thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cũ); nghề nghiệp: Chủ cơ sở massage REX, SAM; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); có chồng Bùi Xuân H2 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giam giữ ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Văn C, tên gọi khác: không, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1983 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (trước đây là thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cũ); nghề nghiệp: Quản lý tại khách sạn R; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị T2; có vợ Bùi Thị K và 02 con; tiền án: Ngày 26/01/2022, bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/02/2018 bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – tỉnh Thanh Hóa) xử phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh, đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

4. Đào Minh C1, tên gọi khác: không, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1984 tại tỉnh Hưng Yên (tỉnh Thái Bình cũ); nơi cư trú: Thôn T, xã L, tỉnh Hưng Yên (xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình cũ); nghề nghiệp: Quản lý cơ sở massage R; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân T3 và bà Phạm Thị S; có vợ Ngô Thị T4 và 02 con; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh, đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

5. Đoàn Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1989 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cũ); nghề nghiệp: Quản lý cơ sở massage S3; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N1 (đã chết) và bà Phạm Thị Á; có vợ Trương Thị H3 và 01 con; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh, đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

6. Trương Quang Đ1, tên gọi khác: không, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1990 tại tỉnh Quảng Trị (tỉnh Quảng Bình cũ); nơi cư trú: Tổ dân phố B M, phường Đ, tỉnh Quảng Trị (trước đây là tổ dân phố B M, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cũ); nghề nghiệp: Quản lý cơ sở massage S3; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang P và bà Lê Thị T5; có vợ Lê Thị Thanh H4 và 02 con; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và tạm hoãn xuất cảnh, đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác, tuy nhiên không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị, nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 5 năm 2024, Đoàn Văn Đ và Phạm Thị M ký hợp đồng thuê lại tầng 02 cơ sở massage của khách sạn S3 ở tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do ông Lương Duy K1 làm chủ để kinh doanh lĩnh vực massage vật lý trị liệu với giá thuê 10.800.000 đồng/tháng. Quá trình kinh doanh massage vật lý trị liệu Đ thống nhất với M cho nhân viên massage hoạt động bán dâm khi khách có nhu cầu. Đ thuê Trương Quang Đ1 và Đoàn Văn H làm quản lý cơ sở massage SAM.

Đầu tháng 7 năm 2024, cùng thủ đoạn trên, Đ và M ký hợp đồng thuê mặt bằng và cơ sở massage ở tầng 11 khách sạn REX thuộc tổ dân phố A phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do bà Phan Thị N2 làm chủ để kinh doanh lĩnh vực massage vật lý trị liệu với giá thuê 50.000.000 đồng/tháng. Quá trình kinh doanh massage vật lý trị liệu Đ thống nhất với M cho nhân viên massage hoạt động bán dâm khi khách có nhu cầu. Đ thuê Đào Minh C1 và Lê Văn C làm quản lý cơ sở massage REX, Ngô Thị T4 làm nhân viên bán vé massage.

Đ tuyển các nhân viên massage phục vụ cho 2 cơ sở massage SAM và REX, trao đổi, thỏa thuận với nhân viên về cách thức hoạt động: nhân viên massage không được trả lương từ công việc massage mà chỉ hưởng tiền bán dâm cho khách khi khách có nhu cầu. Ở khách sạn R có 04 loại vé massage gồm: vé thường giá 350.000 đồng được phục vụ 40 phút; vé 400.000 đồng được phục vụ 60 phút; vé VIP 4 tay là 800.000 đồng thì được 2 nữ nhân viên phục vụ; Vé 600.000 đồng là có phòng tắm VIP thời gian 80 phút. Ở khách sạn S3 vé có hai loại vé thường 350.000 đồng và vé VIP 400.000 đồng. Ngoài ra, nếu khách được xe taxi chở đến mà có nhu cầu mua dâm với nhân viên massage thì nhân viên massage phải trích lại 150.000 đồng từ tiền bán dâm để trả tiền hoa hồng cho lái xe taxi. Trường hợp khách không mua dâm, số tiền 150.000 đồng sẽ trích ra từ tiền vé massage.

Đối với các bị cáo Trương Quang Đ1, Đoàn Văn H, Đào Minh C1 và Lê Văn C quản lý tại hai cơ sở massage, Đ trả lương theo tháng từ 7.000.000 đồng/tháng đến 11.000.000 đồng/tháng. Đ và các quản lý ở hai cơ sở massge tham gia nhóm Zalo để trao đổi công việc hàng ngày liên quan đến việc bán vé massage, chứa mại dâm bằng điện thoại di động cá nhân.

Đối với số tiền bán vé massage thu được, cuối ngày Trương Quang Đ1 (ở khách sạn S3) và Ngô Thị T4 (ở khách sạn R) chuyển vào tài khoản ngân hàng của Đ và M. Đ và M sử dụng để trả lương cho các quản lý và chia nhau mỗi người hưởng 50%.

Hành vi phạm tội cụ thể:

Tại khách sạn R, địa chỉ: Số I đường B, tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình: Khoảng 21 giờ ngày 16/8/2024, Trần Phan H5 và Hoàng Văn T6 đến mua vé massage mỗi vé 400.000 đồng ở lễ tân Ngô Thị T4. Đào Minh C1 nhắn tin vào nhóm Zalo “REX MASSAGE” thông báo số lượng khách cho Lê Văn C. Lê Văn C dẫn Trần Phan H5 và Hoàng Văn T6 lên các phòng 04, 05 tầng 11 rồi điều nhân viên Hồ Thị L đến phục vụ khách ở phòng 04 và Nông Thị G đến phục vụ khách ở phòng 05.

Tại phòng số 04, khi Hồ Thị L đang masage, H5 hỏi: “Ở đây có dịch vụ không”. L hiểu rằng H5 có nhu cầu mua dâm nên trả lời là “ở đây có đi nhanh, giá là 1.000.000 đồng”. H5 đồng ý và đưa 1.000.000 đồng cho L.

Tại phòng số 05, khi Nông Thị G đang masage, T6 hỏi: “Ở đây có dịch vụ thư giãn không”. G hiểu rằng T6 có nhu cầu mua dâm nên trả lời là “anh muốn đi thì đi luôn, giá là 1.000.000 đồng”. T6 đồng ý và đưa 1.000.000 đồng cho G.

Đến 21 giờ 30 phút ngày 16/08/2024, lực lượng Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang 02 cặp nam nữ đang mua bán dâm gồm: Tại phòng 4 tầng 11, Hồ Thị L đang quan hệ tình dục với Trần Phan H5. Tại Phòng 5 tầng 11, Nông Thị G đang quan hệ tình dục với Hoàng Văn T6. Bắt quả tang Đào Minh C1 và Lê Văn C có hành vi chứa hai cặp nam nữ đang mua bán dâm trên.

Tại khách sạn S3, địa chỉ: đường H, tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 16/8/2024, Trương Quang Đ1 đang ở tầng 1 khách sạn, anh Nguyễn Hoàng P1 đi taxi đến hỏi massage, Đ1 dẫn lên tầng 2 gặp Đoàn Văn H rồi quay xuống sảnh tầng 1 đưa 150.000 đồng cho tài xế xe taxi. Hữu bán vé massage 400.000 đồng cho anh P1 rồi dẫn khách vào phòng VIP 4. Sau đó, Hữu nhắn vào nhóm zalo “SAM MASSAGE” là “1v p4” để thông báo, Đức nhắn lại trong nhóm “Taxi anh nhé”. Khoảng 5 phút sau Nguyễn Thị Kim N3 vào phòng VIP 4 massage cho P1. Quá trình massage P1 hỏi: “Có gì vui, làm anh khoẻ được không em?”. Ngân báo giá 1.000.000 đồng một lần mua dâm. P1 đồng ý và đưa tiền cho N3.

Khoảng 10 phút sau, Đ1 tiếp tục dẫn thêm một khách là Đỗ Thắng L1 lên gặp H và nhắn vào nhóm zalo “SAM MASSAGE” là “Có thằng trẻ áo đen là ko taxi”. Hữu bán vé massage 400.000 đồng cho L1 và dẫn khách vào phòng VIP 7. Sau đó, Hữu nhắn vào nhóm nhân viên massage báo có khách đến, lúc này Nông Thị Ly L2 vào phòng massage, L1 hỏi ở đây có bán dâm không. Ly báo giá 1.000.000 đồng một lần mua dâm. L1 đồng ý đưa và đưa tiền cho L2.

Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 16/8/2024, lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang 02 cặp nam nữ đang mua bán dâm gồm: Tại Phòng VIP 4, nhân viên massage Nguyễn Thị Kim N3 đang quan hệ tình dục với Nguyễn Hoàng P1. Tại Phòng VIP 7, nhân viên massage Nông Thị Ly L2 đang chuẩn bị quan hệ tình dục với Đỗ Thắng L1. Bắt quả tang Trương Quang Đ1 và Đoàn Văn H chứa hai cặp nam nữ đang mua bán dâm.

Tại cơ quan điều tra: Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Lê Văn C, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã thu giữ:

- Một điện thoại di động hiệu IPHONE XR màu gạch, số IMEI 357372093433821 của Đào Minh C1.

- Một điện thoại di động hiệu Galaxy A05s màu đen, số IMEI1: 357533648063641, số IMEI2: 358833708063641 của Lê Văn C.

- Một điện thoại di động hiệu IPHONE 15 PRO MAX, màu xám, số IMEI 35151581971951094; số IMEI2: 351581971765189 của Đoàn Văn H.

- Một điện thoại di động hiệu REDMI NOTE 11 PRO+ 5G, màu xanh, bị vỡ mặt lưng phía sau, số IMEI1: 863856066320624; số IMEI2: 863856066320632 của Trương Quang Đ1.

- Một điện thoại nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, màu xanh, số IMEI1: 351243325562289, số IMEI2: 351243325546035 của Đoàn Văn Đ.

- Tiền ngân hàng N4: 13.900.000 đồng; trong đó: 4.000.000 đồng là tiền mua bán dâm thu từ các đối tượng bán dâm Nông Thị G, Hồ Thị L, Nguyễn Thị Kim N3, Nông Thị Ly L2 (mỗi người 1.000.000 đồng); thu từ Ngô Thị T4 800.000 đồng tiền bán vé massage; thu từ Đoàn Văn H 800.000 đồng tiền bán vé massage và 8.300.000 đồng H khai là tiền cá nhân của bị cáo, đã nộp vào số tài khoản 39490904218400000 của Công an thành phố Đ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình.

- 01 ruột bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao cao su bị xé, màu bạc xanh, hiệu ULTRA THIN.

- 01 ruột bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao cao su bị xé, màu bạc, hiệu PURITY.

- 01 bao cao su không rõ nhãn hiệu, màu bạc, chưa sử dụng.

- 01 ruột bao cao su đã sử dụng, 01 vỏ bao cao su màu trắng nhãn hiệu “THIN”.

Đối với hành vi bán dâm của Nông Thị G, Hồ Thị L, Nguyễn Thị Kim N3, Nông Thị Ly L2, ngày 12/12/2024, Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người 400.000 đồng về hành vi bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi mua dâm của Trần Phan H5, Hoàng Văn T6, Đỗ Thắng L1, Nguyễn Hoàng P1, ngày 12/12/2024 Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng về hành vi mua dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Ngô Thị T4 là nhân viên bán vé massage tại cơ sở massage REX. Cơ quan điều tra xác định T4 không biết việc có hoạt động chứa mại dâm tại cơ sở massage REX nên hành vi của Ngô Thị T4 không cấu thành tội phạm.

Đối với lái xe taxi đưa khách đến khách sạn S3, quá trình điều tra không xác định được, tuy nhiên qua lời khai các bị cáo làm rõ lái xe nhận 150.000 đồng là tiền đưa khách đến massage không phụ thuộc vào việc khách có mua dâm hay không và không có cơ sở để biết khách có mua dâm hay không nên hành vi đó không cấu thành tội phạm.

Đối với ông Lương Duy K1, Lê Hồng Q là những người có trách nhiệm quản lý khách sạn SAM nhưng đã không biết Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M sử dụng cơ sở massage SAM để chứa mại dâm, không hưởng lợi từ việc chứa mại dâm của Đ và M nên hành vi không cấu thành tội phạm. Ngày 19/12/2024, Công an thành phố Đ có tờ trình gửi Chủ tịch UBND tỉnh Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương Duy K1 về hành vi “Người đứng đầu cơ sở kinh doanh để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý” và hành vi “Hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự” quy định tại tại khoản 2, Điều 27 và điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với bà Phan Thị N2, ông Đinh Ngọc S1 là người có trách nhiệm quản lý khách sạn REX không biết Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M sử dụng cơ sở massage REX để chứa mại dâm, không hưởng lợi từ việc chứa mại dâm của Đ và M nên hành vi của bà Phan Thị N2, ông Đinh Ngọc S1 không cấu thành tội phạm. Ngày 18/12/2024, Công an thành phố Đ có tờ trình gửi Chủ tịch UBND tỉnh Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Phan Thị N2 về hành vi “Người đứng đầu cơ sở kinh doanh để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý”; hành vi “Lập sổ quản lý, lưu trữ số liệu, tình hình hoạt động kinh doanh không đầy đủ theo quy định của Bộ C4”; hành vi “Không thực hiện đầy đủ các quy định về trách nhiệm đảm bảo an ninh, trật tự khi tiến hành hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” quy định tại tại khoản 2, Điều 27; điểm b khoản 1 Điều 12; điểm g, khoản 2 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Cáo trạng số 07/CT-VKSĐH-TA ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – tỉnh Quảng Trị) đã truy tố: Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M về tội “Chứa mại dâm” quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự; Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H và Trương Quang Đ1 về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị) đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 phạm tội “Chứa mại dâm”.

Về hình phạt chính:

- Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 327; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024 là 59 (năm mươi chín) ngày; thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 25 (hai mươi lăm) tháng, 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

- Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 327; các điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị M 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 22 (hai mươi hai) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 là 98 (chín mươi tám) ngày; thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 18 (mười tám) tháng, 22 (hai mươi hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Đào Minh C1 18 (mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 là 98 (chín mươi tám) ngày; thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 14 (mười bốn) tháng 22 (hai mươi hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

+ Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 18 (mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024 là 98 (chín mươi tám) ngày; thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 14 (mười bốn) tháng 22 (hai mươi hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

+ Xử phạt bị cáo Trương Quang Đ1 18 (mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024 là 59 (năm mươi chín) ngày; thời gian còn lại buộc bị cáo phải chấp hành án là 16 (mười sáu) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự: Xử phạt bổ sung bị cáo Đoàn Văn Đ 20.000.000 đồng; xử phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị M 20.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn C, Đào Minh C1, Đoàn Văn H và Trương Quang Đ1.

Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, rút yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị M, Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1; Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Văn Đ có cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ mới là bị cáo đã cung cấp thông tin tố giác tội phạm cho cơ quan điều tra nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đoàn Văn Đ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Đ sửa một phần bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt đối với bị cáo Đoàn Văn Đ từ 01 – 03 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 nộp trong thời hạn luật định, nên chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 07 năm 2024, Đoàn Văn Đ và Phạm Thị M ký hợp đồng thuê lại tầng 02 cơ sở massage của khách sạn S3 và cơ sở massage ở tầng 11 khách sạn REX để kinh doanh lĩnh vực massage vật lý trị liệu, tuy nhiên Đ và M cho nhân viên massage hoạt động bán dâm khi khách có nhu cầu. Đ thuê Trương Quang Đ1 và Đoàn Văn H làm quản lý cơ sở massage SAM, thuê Đào Minh C1 và Lê Văn C làm quản lý cơ sở massage REX, Ngô Thị T4 làm nhân viên bán vé massage. Sau đó Đ tuyển các nhân viên massage phục vụ cho 2 cơ sở massage SAM và REX. Đ và các quản lý ở hai cơ sở massage tham gia nhóm Zalo để trao đổi công việc hàng ngày liên quan đến việc bán vé massage, chứa mại dâm.

Tại khách sạn R, khi có khách đến mua vé massage, Đào Minh C1 thông báo cho Lê Văn C, sau đó Lê Văn C dẫn khách lên gặp người bán dâm; tại khách sạn S3, Trương Quang Đ1 dẫn khách đến gặp Đoàn Văn H, H bán vé massage cho khách; sau đó giữa khách và người bán dâm sẽ trao đổi việc quan hệ tình dục.

Cụ thể trong ngày 16/08/2024 Đào Minh C1 và Lê Văn C bị bắt quả tang có hành vi chứa 02 cặp nam nữ đang mua bán dâm tại cơ sở massage khách sạn R và cùng ngày Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 đang có hành vi chứa 02 cặp nam nữ đang mua bán dâm tại Cơ sở massage khách sạn S3.

Hành vi của các bị cáo Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” với tình tiết phạm tội hai lần trở lên và chứa mại dâm 4 người trở lên theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự; Hành vi của các bị cáo Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” với tình tiết phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá hai bị cáo Đoàn Văn Đ và Phạm Thị M có vai trò chính và ngang nhau, cùng tổ chức thực hiện hành vi “Chứa mại dâm” còn bốn bị cáo Đào Minh C1, Lê Văn C, Đoàn Văn H và Trương Quang Đ1 giữ vai trò thứ yếu và ngang nhau trong vụ án là phù hợp. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị) đã xét xử các bị cáo về tội "Chứa mại dâm" là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo Đoàn Văn Đ, Phạm Thị M, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1 không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo Lê Văn C tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Văn C cũng có nhân thân xấu khi trước đó bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt tiền 10.000.000 đồng cùng về tội danh này.

Các bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cả sáu bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng 05 bị cáo Đoàn Văn Đ, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, Lê Văn C tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc tố giác, phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Đối với bị cáo Phạm Thị M tại thời điểm phạm tội đang mang thai nên bị cáo M được hưởng thêm tình tiết tại điểm n khoản 1 điều Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Đoàn Văn Đ có ông nội là ông Đoàn Văn S2 là người có công với cách mạng, trong quá tình tham gia quân ngũ hoàn thành tốt nhiệm vụ được Bộ tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến; bị cáo Phạm Thị M có bố là ông Phạm Xuân T được tăng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; Gia đình bị cáo Lê Văn C hiện đang thờ cúng Liệt sĩ Lê Văn K2; bị cáo Đào Minh C1 có ông nội là Đào Xuân C3, bố đẻ là ông Đào Xuân T3 là người có công với cách mạng, được tăng thưởng H6, huy chương kháng kháng chiến; bị cáo Đoàn Văn H có ông nội là ông Đoàn Văn S2 là người có công với cách mạng; bị cáo Trương Quang Đ1 có bố đẻ là ông Trương Quang P và mẹ đẻ là bà Lê Thị T5 người có công cách mạng. Các bị cáo đều cung cấp giấy xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Văn H có cung cấp thêm bản sao Huân chương chiến công Hạng Ba của ông Đoàn Văn Nghĩa L3 bố của bị cáo thuộc tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định cho các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị M, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, Lê Văn C về việc xin giảm hình phạt.

Riêng đối với bị cáo Đoàn Văn Đ, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã giao nộp cho Tòa án Công văn số 131/CV-CQĐT ngày 02/11/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh tỉnh Lai Châu về việc xác nhận thông tin bị cáo Đ đã có tin báo tố giác tội phạm đối với Đèo Văn M2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, giúp cơ quan điều tra bắt giữ được đối tượng phạm tội; vụ án đã được cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của pháp luật. Như vậy, sau khi thực hiện hành vi phạm tội chứa mại dâm, bị cáo đã lập công chuộc tội. Mặt khác, ngày 20/8/2025, bị cáo Đoàn Văn Đ đã tự nguyện nộp trước số tiền 20.000.000 đồng là tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số BLTT/25E/0000050 ngày 20/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm u khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Đ sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - tỉnh Quảng Trị) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Đ.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị M, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, Lê Văn C không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Đoàn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị M, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, Lê Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị) về hình phạt đối với các bị cáo;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2025/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị) về hình phạt đối với bị cáo Đoàn Văn Đ.

2. Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 327; các điểm s, t, u khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

- Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 327; các điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Thị M 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 38 và Điều 17 Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Đào Minh C1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

+ Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 22/11/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

+ Xử phạt bị cáo Trương Quang Đ1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 14/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Xác nhận bị cáo Đoàn Văn Đ đã nộp đủ số tiền 20.000.000 đồng là tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số BLTT/25E/0000050 ngày 20/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Phạm Thị M, Đào Minh C1, Đoàn Văn H, Trương Quang Đ1, Lê Văn C, mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Đoàn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 9 năm 2025).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

239
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 33/2025/HS-PT ngày 12/09/2025

Số hiệu:33/2025/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Trị
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về