Bản án về tội chứa mại dâm số 213/2022/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HN

BẢN ÁN 213/2022/HS-PT NGÀY 15/03/2022 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 15/3/2022 tại trụ sở Tòa án, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 743/2021/TLPT – HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Dư Ngọc S do có kháng cáo của bị cáo.

Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2020/HS-ST ngày 20 tháng 09 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH, thành phố HN.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 640/2021/QĐXXPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo: Dư Ngọc S, Sinh năm: 1989; Tên gọi khác: Không ĐKNKTT: thôn NĐ, xã ĐB, huyện ƯH, thành phố HN. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Dư Văn T, đã chết và bà: Trần Thị T1, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm:1988; Con: có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án: 1 Tiền án, tại bản án HSST số 54 ngày 18/9/2019, bị TAND huyện ƯH xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, 30 tháng thử thách về tội “Trộm cắp tài sản”.

(Nhân thân:

- Ngày 16/3/2017, bị Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH ra quyết định khởi tố vụ án và bị can về tội “Cố ý gây thương tích”. Viện kiểm sát nhân dân huyện ƯH ra quyết định truy tố. Ngày 24/8/2017, TAND huyện ƯH ra quyết định đình chỉ vụ án “Cố ý gây thương tích” do người bị hại có đơn xin rút yêu cầu.

- Ngày 16/9/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vu khống”. Tại bản án số 75/2021/HSST ngày 25/10/2021 Tòa án nhân dân huyện ƯH đã xử bị cáo 27 thàng tù về tội vu khống (án đã có hiệu lực pháp luật do Quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm số 129/2022/HSPT-QĐ ngày 22/02/2022).

Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã, hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố HN. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994; (Vắng mặt tại phiên toà) 2- Anh Đinh Trọng Th, sinh năm 1996; (Vắng mặt tại phiên toà) Đều trú tại: thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện ƯH, thành phố HN.

3- Chị Bùi Thị L, sinh năm 1988; Trú tại: xóm Cốc, xã KB, huyện KB, tỉnh HB. (Vắng mặt tại phiên toà) 4- Chị Đinh Thị Ng, sinh năm 1986; Trú tại: xóm Rét, xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt tại phiên toà) 5- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1944; Trú tại: thôn Trung Thịnh, xã Trường Thịnh, huyện ƯH, thành phố HN.

Người làm chứng:

1- Chị Lường Thị Nh, sinh năm 1987;

Trú tại: bản Nang Cầu, xã Nà nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên toà) 2- Chị Bùi Thị Kh, sinh năm 1986;

Trú tại: xóm Bái, xã KL, huyện KB, tỉnh HB. (Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/5/2020, Dư Ngọc S thuê nhà nghỉ Anh Tấn, tại thôn Trung Thịnh, xã Trường Thịnh, huyện ƯH của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1944, ở thôn Trung Thịnh, xã Trường Thịnh, huyện ƯH, thành phố HN, thời hạn 03 năm để kinh doanh nhà nghỉ, giá thuê 7.000.000 đồng/ tháng. Sau đó từ tháng 8/2020 đến ngày 10/12/2020, lần lượt có Lường Thị Nh; Bùi Thị Kh, Đinh Thị Ng và Bùi Thì Liển đến nhà nghỉ Anh Tấn gặp Dư Ngọc S xin làm gái bán dâm đều được Sinh đồng ý, Sinh thống nhất với các gái bán dâm như sau: Khi có khách đến mua dâm Sinh sẽ trao đổi việc mua bán dâm rồi bảo khách trả tiền trực tiếp cho gái bán dâm, đối với Lường Thị Nh, Đinh Thị Ng và Bùi Thì Liển sẽ thu của khách 300.000 đồng/1 người/1 lượt mua dâm; riêng Bùi Thị Kh thu 200.000 đồng/1 người/1 lượt mua dâm, đến sáng hôm sau sẽ chốt lượt khách mua dâm và thống nhất chia tiền bán dâm theo tỷ lệ Sinh hưởng 50% số tiền thu được của Lường Thị Nh, Bùi Thị Kh, 60% số tiền thu được của Đinh Thị Ng và Bùi Thì Liển, ngoài ra bao các gái bán dâm ngủ nghỉ tại nhà nghỉ, ăn uống thì tự túc.

Khoảng 22 giờ ngày 20/12/2020, Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994 và Đinh Trọng Th, sinh năm 1996, đều ở thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện ƯH đến nhà nghỉ Anh Tấn để mua dâm. Khi đến Quyền, Thiện gặp Dư Ngọc S đang ở khu vực quầy lễ tân, Thiện hỏi Sinh “ở đây có nhân viên đóng gạch không”, Sinh nói “có”, Thiện lại hỏi Sinh “giá như thế nào nhỉ”, Sinh đáp“Ba trăm nghìn đồng một người một lượt”, Thiện nói“Thế cho hai em trẻ đẹp vào nhé”, Sinh bảo“lên phòng đi”, Thiện hỏi lại“thế bây giờ trả tiền cho anh hay cho nhân viên, trả trước hay trả sau”, Sinh trả lời“trả cho nhân viên, trả trước nhé”. Sau đó Sinh dẫn Quyền, Thiện lên tầng 2 để mua dâm Đinh Thị Ng và Bùi Thị L, Quyền lấy 600.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đưa cho Sinh, Sinh nói “không có tiền lẻ à” rồi cầm tiền và bảo Quyền đi vào phòng 203 có Ngọc đang ngồi trong phòng để chờ bán dâm, Sinh nói với Ngọc “đi khách đi em” và đưa cho Ngọc 300.000 đồng, Ngọc cầm tiền rồi tự cởi quần áo của mình, Quyền tự cởi quần áo, Ngọc lấy 01 bao cao su có sẵn ở đầu giường, bóc vỏ đeo vào dương vật của Quyền rồi cả hai bắt đầu quan hệ tình dục. Cùng lúc này Sinh dẫn Thiện sang phòng 205 và đưa cho Thiện 300.000 đồng, Thiện cầm lại tiền từ Sinh đi vào phòng có Liển đang ngồi ở giường để chờ bán dâm, Sinh nói với Liển “đi khách cho anh” rồi đi ra ngoài, Thiện đưa cho Liển 300.000 đồng rồi cả hai tự cở quần áo, Liển lấy bao cao su có sẵn ở đầu giường bóc vỏ rồi đeo vào dương vật của Thiện và cả hai bắt đầu quan hệ tình dục.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 20/12/2020, khi Quyền và Ngọc đang mua bán dâm tại phòng 203; Thiện và Liển đang mua bán dâm tại phòng 205 thì Tổ công tác Công an huyện ƯH vào kiểm tra hành chính bắt quả tang thu giữ vật chứng. Thấy vậy, Dư Ngọc S đã bỏ chạy không phối hợp kiểm tra hành chính. Trên cơ sở lời khai của các gái bán dâm, người mua dâm và các tài liệu, đồ vật thu giữ xác định Dư Ngọc S đã thực hiện hành vi“Chứa mại dâm”, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện ƯH đã ra Lệnh giữ người khẩn cấp đối với Sinh, nhưng Sinh đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Vật chứng thu giữ:

- 02 chiếc bao cao su đã qua sử dụng, thu tại phòng 203, 205.

- Tiền VNĐ: 600.000 đồng, thu của Đinh Thị Ng và Bùi Thị L mỗi người 300.000 đồng.

- 01 điêṇ thoaị di động IPHONE 6 PLUS màu vàng, có số IMEL:

352066064833168 (thu tại bàn lễ tân).

- 01 quyển sổ bìa màu vàng, bên trên ghi chữ “nhật ký khách nghỉ”, bên ngoài bọc giấy bóng kính, từ trang số 01 đến trang số 10 có viết chữ và số (thu tại bàn lễ tân).

- 01 quyển sổ bìa màu xanh, bên trên ghi chữ “sổ lưu trú khách nghỉ”, bên dưới có chữ “năm 2020”, từ trang số 01 đến trang số 10 có viết chữ và số (thu tại bàn lễ tân).

- 01 quyển sổ bìa màu xanh, bên trên ghi chữ “sổ lưu trú khách nghỉ”, bên dưới có chữ “năm 2020”, từ trang số 01 đến trang số 11 có viết chữ và số (thu tại bàn lễ tân).

- 01 quyển sổ bìa màu xanh, bên trên ghi chữ “sổ lưu trú khách nghỉ”, bên dưới có chữ “năm 2019”, từ trang số 01 đến trang số 06 có viết chữ và số (thu tại bàn lễ tân).

- 01 thẻ nhớ 32GB mặt trước màu xanh trắng, thu tại camera lắp trong nhà nghỉ Anh Tấn.

- 01 điện thoại nhãn hiêu OPPO F7 màu đỏ, có số IMEL 1: 868476039568897, số IMEL 2: 868476039568889. Thu của Đinh Thị Ng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG galaxy A10S màu xanh, có số IMEL 1: 352121119063988, số IMEL 2: 352122117813986. Thu của Bùi Thị Kh.

- 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG galaxy A50 màu xanh, có số IMEL 1: 3566646102323482, số IMEL 2: 356647102323480. Thu của Bùi Thị L.

Ngày 22/4/2021, của Cơ quan CSĐT - Công an huyện ƯH, ra quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an: 01 thẻ nhớ 32GB mặt trước màu xanh trắng, thu tại camera lắp trong nhà nghỉ Anh Tấn (trong đó có 03 tâp tin video và dung lượng đã thu giữ khi kiểm tra hành chính ngày 20/12/2020, tại nhà nghỉ Anh Tấn) xem có bị cắt ghép hay làm giả không? Tại kết luận giám định số 3301/C09 -P6 ngày 23/6/2021, Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

“Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định”.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện ƯH xác định 03 điện thoại di động là tài sản hợp pháp của Đinh Thị Ng, Bùi Thị L, Bùi Thị Kh không liên quan đến vụ án, nên đã trả 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG galaxy A10S màu xanh cho Bùi Thị Kh; 01 điện thoại nhãn hiêu OPPO F7 màu đỏ cho Đinh Thị Ng; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG galaxy A50 màu xanh cho Bùi Thị L. Ngọc, Khuyện, Liển đã nhận lại tài sản và không có ý kiến thắc mắc gì.

Quá trình điều tra Lường Thị Nh, Bùi Thị Kh, Đinh Thị Ng, Bùi Thị L đều khai nhận: Từ tháng 8/2020 đến ngày 10/12/2020, Nhất, Khuyện, Liển, Ngọc đến nhà nghỉ Anh Tấn làm gái bán dâm, khi có khách đến mua dâm Dư Ngọc S trực tiếp điều gái bán dâm cho khách và thỏa thuận ăn chia % tiền mua bán dâm với Nhất, Khuyện, Liển, Ngọc. Quá trình điều tra, Dư Ngọc S không hợp tác với Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH mà bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra giải quyết vụ án. Ngày 19/03/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH đã ra quyết định truy nã bị can số 02 đối với Dư Ngọc S. Ngày 28/3/2021 phòng PC02 – Công an thành phố HN phối hợp cùng Công an phường Tân Thới Nhất, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh đã bắt Dư Ngọc S theo quyết định truy nã. Quá trình làm việc tại Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH bị can Dư Ngọc S có thái độ, biểu hiện chống đối, không hợp tác, không thành khẩn khai báo, không tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi tội phạm của mình, cũng như không trình bày bất kỳ nội dung hay lời khai nào.

Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 09/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện ƯH đã truy tố bị cáo về tội: “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2020/HS-ST ngày 20 tháng 09 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH, thành phố HN đã xử bị cáo Dư Ngọc S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 54 ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện ƯH nay chuyển thành hình phạt tù giam. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù chung cho hai bản án là 51 (năm mươi mốt) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/03/2021. Được trừ hạn tạm giữ từ ngày 21/06/2019 đến ngày 30/06/2019 của bản án số 54 ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân Huyện ƯH.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Dư Ngọc S có đơn kháng cáo kêu oan; đồng thời gia đình bị cáo có nhiều đơn gửi đến Tòa án và các cơ quan kêu oan cho bị cáo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo thừa nhận thực hiện các hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, không thắc mắc kêu oan và chỉ xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt do hoàn cảnh gia đình khó khăn. Lý do của việc thay đổi là do trong thời gian qua đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Gia đình bị cáo cũng có đơn rút lại ý kiến việc bị cáo bị oan và chỉ đề nghi Tòa án xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HN phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Dư Ngọc S nộp trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Tại cấp sơ thẩm, bị cáo không thành khẩn khai báo, bị cáo là người có nhân thân xấu. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã thay đổi lời khai thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải và không kêu oan.

Về nội dung: Căn cứ lời khai các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 như án sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội. Mức án cấp sơ thẩm đã áp dụng có phần nghiêm khắc, đè gnhij Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLHS năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa Bản án sơ thẩm xử bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.

Các quyết dịnh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị cáo Dư Ngọc S nộp trong thời hạn Luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 8/2020, đến ngày 20/12/2020, Dư Ngọc S là chủ nhà nghỉ Anh Tấn đã chứa Lường Thị Nh, Bùi Thị Kh, Đinh Thị Ng và Bùi Thì Liển làm gái bán dâm nhằm mục đích thu lời bất chính. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/12/2020, Nguyễn Văn Q, Đinh Trọng Th đều trú tại thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện ƯH, thành phố HN đến nhà nghỉ Anh Tấn, tại thôn Trung Thịnh, xã Trường Thịnh, huyện ƯH, thành phố HN hỏi mua dâm thì được Dư Ngọc S điều Đinh Thị Ng bán dâm cho Nguyễn Văn Q tại phòng 203 và Bùi Thị L bán dâm cho Đinh Trọng Th tại phòng 205. Khi Nguyễn Văn Q đang mua bán dâm với Đinh Thị Ng tại phòng 203; Đinh Trọng Th đang mua bán dâm với Bùi Thị L tại phòng 205 thì bị Công an huyện ƯH tiến hành kiểm tra hành chính và bắt quả tang thu giữ 600.000 đồng tiền mua bán dâm cùng 02 bao cao su đã qua sử dụng.

HĐXX phúc thẩm nhận thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo kêu oan, đòng thời gia đình bịc áo cũng có nhiều đơn gửi đến Tòa án và các cơ quan chức năng kêu oan cho bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thay đổi nội dung kháng cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, không kêu oan mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Thái độ khai báo thành khẩn thể hiện việc ăn năn hối cải. Đồng thời gia đình bị cáo cũng có đơn xin rýt ý kiến kêu oan cho bị cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính (đơn có xác nhận của chính quyền địa phương) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bao gồm: 01 thẻ nhớ 32GB mặt trước màu xanh trắng, thu tại camera lắp trong nhà nghỉ Anh Tấn (trong đó có 03 tâp tin video và dung lượng đã thu giữ khi kiểm tra hành chính ngày 20/12/2020, tại nhà nghỉ Anh Tấn), lời khai của những người liên quan trong vụ án; đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Dư Ngọc S đã phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 như Toà án cấp sơ thẩm nhận định là đúng người , đúng tội và không oan.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân lây truyền các loại bệnh xã hội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới có đủ tính răn đe, giáo dục chung cho xã hội như Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo lần này phạm tội trong thời gian thử thách của Bản án số 54 ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện ƯH là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Ngoài ra, trong thời gian tại ngoại của vụ án này bị cáo còn có hành vi phạm tội khác và ngày 16/9/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện ƯH ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vu khống”. Tại bản án số 75/2021/HSST ngày 25/10/2021 Tòa án nhân dân huyện ƯH đã xử bị cáo 27 thàng tù về tội vu khống. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo sau đó đã rút đơn kháng cáo và Tòa án nhân dân tòa án nhân dân thành phố HN đã ra Quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm số 129/2022/HSPT- QĐ ngày 22/02/2022, án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Nên ngoài việc tuyên phạt bị cáo về hành vi phạm tội lần này còn buộc bị cáo chấp hành hình phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo chuyển thành giam của bản án số 54 ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện ƯH và hình phạt 27 tháng tù theo bản án số 75/2021/HSST ngày 25/10/2021 Tòa án nhân dân huyện ƯH.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội thể hiện sự ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nên xem xét tình tiết giảm nhẹ theo quy định của điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự đẻ xem xét giảm một phần hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo như Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là hoàn toàn phù hợp.

Bởi các phân tích trên, hội đồng xét xử thấy cần sửa 1 phần Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện ƯH, thành phố HN [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dư Ngọc S.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2020/HS-ST ngày 20 tháng 09 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH, thành phố HN.

Xử: Tuyên bố bị cáo Dư Ngọc S phạm tội “Chứa mại dâm”

Áp dụng: Khoản 1 điều 327; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Dư Ngọc S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo nay chuyển thành giam theo bản án số 54/2019/HSST ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện ƯH và chấp hành hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù theo bản án số 75/2021/HSST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện ƯH. Tổng hợp, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 3 bản án là 66 (sáu mươi sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/03/2021. Được trừ hạn tạm giữ của bản án số 54 ngày 18/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện ƯH từ ngày 21/06/2019 đến ngày 30/06/2019.

III. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 15/3/2022. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

114
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 213/2022/HS-PT

Số hiệu:213/2022/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/03/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về