Bản án về tội chứa mại dâm số 19/2020/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 19/2020/HS-ST NGÀY 23/04/2020 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/HS-QĐ ngày 07 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Thị Tuyết A, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố LQ, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Hường, sinh năm 1930 và bà Phùng Thị Dậu, sinh năm 1932 (đều đã chết); có 06 anh chị em ruột, bị cáo là thứ tư; chồng: Phan Văn H, sinh năm 1959; bị cáo có 2 con: Con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1988; tiền án: Ngày 28/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Chứa mại dâm”; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25-12-2019 đến ngày 03-01-2020 thì chuyển tạm giam; ngày 16-01-2020, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn Th, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 6, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

1. Chị Hà Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm Vượng, xã XĐ, huyện RS, tỉnh Phú Thọ;

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố số 3, thị trấn YD, huyện HH, tỉnh Nam Định;

3. Chị Trần Thị Ng, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 3, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định;

4. Ông Đoàn Văn N, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm 3, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định;

5. Ông Phan Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm 16, xã BH, huyện GT, tỉnh Nam Định;

6. Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1972; địa chỉ: Nhà nghỉ Sao Biển 1, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh Nam Định.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt anh Th và những người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết từ trước với Bùi Thị Tuyết A nên khoảng 9 giờ ngày 25-12- 2019, Đỗ Văn Th gọi điện cho Tuyết A nhờ tìm cho Th một gái bán dâm, Th hứa sẽ trả công nên Tuyết A đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Th gọi điện cho Tuyết A hẹn gặp ở quán cafe Đồng Quê thuộc xóm 9, xã Hải Hà. Tuyết A rủ Hà Thị H - nhân viên ki ốt Sao Biển thuộc khu du lịch thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy đến quán cà phê gặp Th. Tuy nhiên, vì sợ người quen nhìn thấy nên Th bảo Tuyết A và H đi đến quán Thủy Tiên ở tổ dân phố số 3, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu nói chuyện. Tại đây, Th đặt vấn đề mua dâm với H, Tuyết A và H đồng ý. Th trả cho Tuyết A 200.000đ tiền công môi giới rồi cùng H đến nhà nghỉ Mạnh Cường ở xóm 8, xã Hải PH, huyện Hải Hậu thuê phòng số 201 để thực hiện việc mua bán dâm. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th và H đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì bị tổ công tác của Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt giữ lập biên bản vi phạm hành chính. Đỗ Văn Th và Hà Thị H đều khai nhận việc mua bán dâm là do Bùi Thị Tuyết A môi giới. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người đối với Bùi Thị Tuyết A, thu giữ của Tuyết A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo kèm số thuê bao 0333.971.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel kèm số thuê bao 0919.353.xxx và số tiền 500.000đ trong đó có 200.000đ là tiền môi giới mại dâm.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ của Th các đồ vật sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly kèm số thuê bao 0972.016.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 kèm sim số thuê bao 0947.708.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S không có sim; thu giữ của H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno2 kèm sim số thuê bao 0862818xxx và 01 bao cao su chưa qua sử dụng.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-HH ngày 16-3-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Bùi Thị Tuyết A về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Th khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên Hai Hâu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị Tuyết A từ 6 đến 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian thử thách nên căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành thêm 18 tháng tù của bản án số 121/2016/HSST ngày 28-12-2016 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Đề nghị áp dụng Điều 56 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo; bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam của cả hai lần phạm tội. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa được xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn, hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Bùi Thị Tuyết A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của những người làm chứng và các T liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 25- 12-2019, tại tổ dân phố số 3, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Bùi Thị Tuyết A đã môi giới dẫn dắt để Hà Thị H bán dâm cho Đỗ Văn Th tại nhà nghỉ Mạnh Cường ở xóm 8, xã Hải PH, huyện Hải Hậu để thu lời bất chính số tiền 200.000đ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi môi giới mại dâm của bị cáo Bùi Thị Tuyết A đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hoá của dân tộc và còn là nguyên nhân làm lây truyền các loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy: Ngày 28-12-2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Chứa mại dâm”. Khi chưa hết thời gian thử thách, ngày 25-12-2019 bị cáo đã phạm tội mới nên bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước (18 tháng) và tổng hợp với hình phạt của bản án mới (hành vi phạm tội lần này) theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bùi Thị Tuyết A đã có một tiền án về tội “Chứa mại dâm”, chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã Th khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng “Huân cH kháng chiến chống Pháp hạng Nhì” và “Huân cH kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét H cảnh bị cáo bị tiểu đường tuýp 2 kèm theo bệnh tiền đình đang phải uống thuốc hàng ngày, điều trị định kỳ theo chỉ định của bác sỹ (có bệnh án kèm theo), nếu thời gian cải tạo kéo dài, không đủ điều kiện chữa bệnh có thể sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Do đó, Hội đồng xét xử có thể xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Đối với Đỗ Văn Th có hành vi mua dâm và Hà Thị H có hành vi bán dâm là vi phạm hành chính nên Công an huyện Hải Hậu xử phạt hành chính đối với Th và H là phù hợp pháp luật.

[6] Đối với ông Đoàn Văn Năm là chủ nhà nghỉ Mạnh Cường có giấy phép kinh doanh theo quy định của pháp luật và không biết Th, H thuê phòng để mua bán dâm nên không có căn cứ để xử lý bằng pháp luật.

[7] Về vật chứng:

- Số tiền 300.000đ cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel thu giữ của Bùi Thị Tuyết A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 đã thu giữ của Đỗ Văn Th và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno2 thu giữ của Hà Thị H không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Tuyết A, Th và H là phù hợp pháp luật.

- Số tiền 200.000đ thu giữ của Bùi Thị Tuyết A do phạm tội mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo kèm sim số thuê bao 0333.971.xxx thu giữ của Tuyết A, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly kèm sim số thuê bao 0972.016.xxx thu giữ của Đỗ Văn Th là pH tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 bao cao su chưa qua sử dụng thu giữ của Hà Thị H, xét cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S không kèm theo sim đã thu giữ là T sản hợp pháp của Th không liên quan đến việc phạm tội, xét cần trả lại cho Th là phù hợp pháp luật.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Thị Tuyết A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Tuyết A phạm tội “Môi giới mại dâm”, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 121/2016/HSST ngày 28-12-2016 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, bị cáo phải chấp hành 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 12-10-2016 đến ngày 15-10-2016 và thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25- 12-2019 đến ngày 15-01-2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 200.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A71 vỏ màu vàng đồng của Bùi Thị Tuyết A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly vỏ màu vàng đồng của Đỗ Văn Th.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su nhãn hiệu SWM chưa qua sử dụng của Hà Thị H; sim số thuê bao 0972.016.xxx của Đỗ Văn Th; sim số thuê bao 0333971xxx của Bùi Thị Tuyết A.

- Trả lại cho Đỗ Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu và Biên lai thu tiền số 07785 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu lập cùng ngày 12/3/2020).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Thị Tuyết Aphải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 19/2020/HS-ST

Số hiệu:19/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hải Hậu - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về