Bản án về tội chứa mại dâm số 148/2019/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 148/2019/HS-ST NGÀY 30/10/2019 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 30 tháng 10 năm 2019 tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116 /2019/ TLST-HS ngày 29/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2019/QĐXXST-HS ngày 16/10/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Hữu T ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 18/3/1980, tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 6, khu Đ 1, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Tổ 1, khu 4A, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ và tên bố: Lê Hữu Đ ; Họ và tên mẹ: Hà Thị Th ;

Vợ: Bùi Thị Th Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 14/9/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán người”, ngày 03/9/2013 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị bắt ngày 09/01/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.

2. Họ và tên: Lò Văn Qu ; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 08/10/1994, tại huyện T, tỉnh Điện Biên;

Nơi ĐKHKTT: Bản Ch, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Tổ 1, khu 4A, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ và tên bố: Lò Văn D ; Họ và tên mẹ: Lò Thị K Vợ, con: không;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/12/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Đức Th, sinh năm1956; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:Tổ 1, khu 4A, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

3. Lường Thị S, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Ch, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

4. Lò Thị N, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

5. Lường Thị L, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

6. Lường Thị H , sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

7. Cà Thị H , sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

8. Lò Thị X, sinh năm 2003; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

9. Lường Thị Th , sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã Nà Nhạn, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

10. Vũ Tiến Đ , sinh năm1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:Tổ 3, khu D, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

11. Nguyễn Văn T , sinh năm1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:Tổ 5, khu C 1, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên toà Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lường Thị T , sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2018, Lê Hữu T thuê căn nhà số 106, thuộc tổ 1, khu 4A, phường C, thành phố Cẩm Phả, của ông Nguyễn Đức Th với giá 3.000.000 đồng/tháng. Căn nhà dạng nhà cấp 4, có gác xép, Tuân chia tầng 1 thành 03 gian: 01 gian phòng khách là nơi tiếp khách đến mua dâm; phía sau là khu vực buồng ngủ gồm 04 buồng, là nơi ngủ và nơi bán dâm; 01 gian bếp và vệ sinh; tầng 2 gác xép có 03 buồng ngủ, cũng là nơi ngủ và bán dâm. Từ khoảng tháng 06/2018, qua mạng xã hội Zalo, T lần lượt quen và rủ rê các chị là Lò Thị N (sinh năm 1990), Lường Thị T (sinh năm 1988), Lường Thị Th (sinh năm 1995), Lường Thị S (sinh năm 1989), Lường Thị H (sinh năm 1986), Cà Thị H (sinh năm 1982), Lò Thị X (sinh ngày 13/6/2003), Lường Thị L (sinh năm 1989) đến ở và bán dâm tại căn nhà trên.

Giữa T và số gái bán dâm thỏa thuận cụ thể như sau: Gái bán dâm được bố trí ăn ngủ, sinh hoạt và bán dâm tại quán, theo chỉ đạo và sắp xếp của T. Công việc là mát xa kích dục cho khách, nếu khách có nhu cầu mua dâm thì bán dâm. Giá mỗi lần bán dâm là 200.000 đồng/người/lượt, người bán dâm được hưởng 100.000 đồng, T thu 100.000 đồng; giá mỗi lần mát xa kích dục là 150.000 đồng/người/lượt, T thu 80.000 đồng, trả cho nhân viên 70.000 đồng. Việc thỏa thuận, thu tiền của khách do T trực tiếp thực hiện và được ghi chép vào sổ để theo dõi. Hàng ngày T ghi số lần bán dâm của từng gái bán dâm trong ngày hôm đó, mỗi lần bán dâm cho khách được ký hiệu bằng ký tự “x”, mỗi lần kích dục cho khách được ký hiệu bằng ký tự “ x ” – chữ x được khoanh tròn. Sau đó, đến cuối ngày hoặc sáng ngày hôm sau, Tuân sẽ trả tiền cho những người bán dâm theo như đã thỏa thuận ở trên, mỗi lần thanh toán đều được gạch trong sổ.

Đến tháng 10/2018, T tiếp tục thuê thêm căn nhà cấp 4 khác, cùng thuộc tổ 1, khu 4A, phường C, của ông Nguyễn Đức Th , gần căn nhà số 106, để mở rộng hoạt động chứa mại dâm. T chia căn nhà này thành 03 gian: 01 gian phòng khách là nơi tiếp khách đến mua dâm; 02 dãy buồng ngủ đối diện nhau, có lối đi ở giữa (dãy bên trái gồm 04 buồng; bên phải gồm 01 buồng) là nơi ngủ và bán dâm; 01 gian bếp và vệ sinh. Sau đó, T bố trí các chị Lò Thị N , Lường Thị T , Lường Thị Th , ăn ở, sinh hoạt và bán dâm tại căn nhà này. Còn các chị Lường Thị S , Lường Thị H , Cà Thị H , Lò Thị X , Lường Thị L , ăn ở, sinh hoạt và bán dâm tại căn nhà số 106.

Qua mạng xã hội Facebook, Lê Hữu T quen biết Lò Văn Qu t. T rủ Qu t đến trông coi và quản lý quán tẩm quất, mát xa cho T , Qu đồng ý. Khoảng tháng 11/2018, Qu đến thành phố Cẩm Phả làm thuê cho T . T thỏa thuận trả cho Qu 6.000.000 đồng/tháng, công việc của Qu là trông coi căn nhà số 106 và quản lý những người bán dâm do T sắp xếp tại căn nhà này, ghi chép vào sổ theo dõi do T đưa cho Qu và thu tiền các lần bán dâm và kích dục cho khách để đưa lại cho T , còn T sẽ trực tiếp quản lý căn nhà mới thuê từ tháng 10/2018. T hướng dẫn Qu cách thức ghi chép trong sổ và thỏa thuận tiền chia lại cho những người bán dâm như trên.

Khoảng 13 giờ 30 ngày 25/12/2018, anh Nguyễn Văn T và bạn là anh Vũ Tiến Đ đến căn nhà số 106 để mua dâm. Anh T thỏa thuận với Qu , mua dâm của 02 người bán dâm với giá 400.000 đồng (tức 200.000 đồng mỗi người). Qu đồng ý, thu của anh T 400.000 đồng và sắp xếp cho anh T và chị H mua, bán dâm tại buồng thứ 2, tầng 1; anh Đ và chị S mua, bán dâm tại buồng đầu tiên, tầng 2 của quán. Khi 02 đôi nam nữ đang quan hệ tình dục thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng:

- Thu của Lò Văn Qu 400.000 đồng; 01 quyển sổ, kích thước (12x08)cm, trong có viết các chữ, số, bằng mực màu xanh, đen (đánh ký hiệu từ A01 đến A18); 01 bút bi mực màu xanh, vỏ nhựa màu trắng.

- Thu tại buồng của Lường Thị S và Vũ Tiến Đ 01 vỏ bao cao su màu vàng, nhãn hiệu VIP đã xé và 01 bao cao su đã qua sử dụng.

- Thu tại buồng của Cà Thị H và Nguyễn Văn T 01 vỏ bao cao su màu vàng, nhãn hiệu ONE TOUCH đã xé và 01 bao cao su đã qua sử dụng.

- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hữu T , tại căn nhà cấp 4, thuộc tổ 1, khu 4A, phường C, thu giữ: 67 bao cao su, màu vàng, nhãn hiệu ONE TOUCH chưa qua sử dụng và 08 mảnh vỏ bao cao su cùng loại, tại các buồng ngủ thuộc dãy bên trái;

2.500.000 đồng tại buồng ngủ bên phải. 01 quyển sổ “Hải Tiến”, kích thước (8,5x13cm), trong có viết các chữ, số bằng mực xanh, đen (đánh ký hiệu từ A19 đến A31), dưới đệm giường ngủ của Tuân, trong gian phòng khách giáp cửa chính.

Tại bản kết luận giám định số 24/GĐTL ngày 18/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận:

- 01 quyển sổ thu giữ của Lò Văn Qu , chữ viết trong các tài liệu ký hiệu từ A01 đến A09, từ A12 đến A14, từ A16 đến A18 và chữ viết trong các tài liệu ký hiệu A10, A11, A15 là chữ của Lò Văn Qu .

- 01 quyển sổ thu giữ tại chỗ ở của Lê Hữu T , chữ viết ở ô màu đỏ trong các tài liệu ký hiệu A21, A22, A24, A25, A26, A28, A29 là chữ của Lê Hữu T . (Bút lục số 132) Căn cứ vào tài liệu điều tra đã xác định được: Từ ngày 12/11/2018 đến ngày 24/12/2018, T và Qu đã nhiều lần bố trí, sắp xếp cho người bán dâm bán dâm, kích dục cho khách (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại 02 căn nhà cấp 4, cụ thể: Lò Thị N (tức Lan) bán dâm tổng cộng 156 lần, kích dục cho khách 01 lần; Lường Thị Th bán dâm tổng cộng 146 lần, kích dục cho khách 01 lần; Cà Thị H bán dâm tổng cộng 118 lần; Lường Thị H (tức My) bán dâm tổng cộng 61 lần, kích dục cho khách 01 lần; Lường Thị L (tức Hằng) bán dâm tổng cộng 112 lần, kích dục cho khách 04 lần; Lường Thị S (tức Thu) bán dâm tổng cộng 44 lần, kích dục cho khách 02 lần; Lò Thị X bán dâm tổng cộng 67 lần, kích dục cho khách 03 lần. Tổng số tiền thu của khách đến mua dâm là 140.800.000đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Lò Văn Qu đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Qu khai nhận: Bị cáo đến làm thuê cho Lê Hữu T từ ngày 23/11/2018 tại quán tẩm quất mát xa của T tại ngôi nhà số 106 tổ 1 khu 4A phường C thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh. Khi bị cáo đến làm việc, T bố trí cho bị cáo ăn ở ngay tại quán và thoả thuận mỗi tháng được trả công 6.000.000đồng, công việc là trông coi quản lý gái bán dâm tại quán, khi đó tại quán có 05 gái bán dâm là chị H , S (tên ở quán là Thu), H (tên ở quán là My), X, L (tên ở quán là Hằng), họ được bị cáo Tuân bố trí mỗi người ở một phòng, khi có khách đến đồng ý mua dâm ai thì họ thực hiện việc bán dâm ngay tại phòng ở đó. T đã hướng dẫn bị cáo thu tiền của khách đến mua dâm là 200.000đồng/lần; khách đến kích dục là 150.000đồng/lần, hàng ngày gái mại dâm nào bán dâm hay kích dục cho khách được lượt nào thì bị cáo ghi và đánh dấu vào sổ lượt đó để sáng ngày hôm sau bị cáo T sang quán hoặc bị cáo đưa sang quán của T, để T trả tiền công cho gái mại dâm, bị cáo biết, mỗi lần bán dâm gái bán dâm được T trả 100.000đồng/lượt, mỗi lần kích dục gái mại dâm được T trả 70.000đồng/lượt. Đến khoảng 13 giờ, ngày 25/12/2018 khi bị cáo bố trí cho anh Nguyễn Văn T, Vũ Tiến Đ mua dâm các chị Lường Thị S, Cà Thị H thì bị phát hiện bắt quả tang, số tiền 400.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo vừa nhận của anh T trả cho việc mua dâm chị S, chị H. Quyển sổ thu giữ của bị cáo là sổ ghi chép lại tên gái bán dâm và số lần gái bán dâm đã bán dâm hoặc kích dục cho khách trong từng ngày, sổ này ghi từ ngày 07/12/2018 đến ngày 24/12/2108, bị cáo dùng để làm cơ sở hàng ngày giao tiền cho bị cáo T, trong sổ ghi trình tự thời gian theo ngày, tên gái bán dâm, mỗi lần gái bán dâm nào bán dâm được lượt nào bị cáo đánh dấu “X”, còn kích dục đánh dấu “X” khoanh tròn, các ký tự “X” này gạch ngang là ký hiệu các gái bán dâm đã được thanh toán tiền. Số tiền bị cáo thu của khách đến mua dâm trong ngày 24/12/ 2018 là 27 lượt tương ứng với số tiền 5.400.000đồng bị cáo chưa kịp giao lại cho T, khi bị bắt bị cáo không nhớ được số tiền này bị cáo để ở đâu. Quá trình bị cáo làm thuê cho T ngoài việc như thỏa thuận T nuôi ăn, ở, thì bị cáo chưa được trả tiền công, không được T chia cho hay cho hưởng lợi về tài sản nào khác.

Đối với bị cáo Lê Hữu T, ngày 09/01/2019 ra đầu thú tại Cơ quan điều tra, khai nhận hành vi phạm tội. Sau đó, bị cáo T thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận việc có cho các nhân viên tẩm quất, mát xa kích dục tại quán, không thừa nhận hành vi chứa mại dâm. Tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu T khai nhận: Bị cáo là người trực tiếp thuê hai căn nhà tại địa chỉ tổ 1 khu 4A phường C thành phố Cẩm Phả của ông Nguyễn Đức Th , một ngôi nhà đánh số 106, ngôi nhà thứ hai cách ngôi nhà số 106 khoảng 2 nhà. Mục đích bị cáo thuê nhà mở quán tẩm quất mát xa, bị cáo đã dùng tấm ngăn chia ngôi nhà thuê thành các phòng nhỏ, thuê các nhân viên nữ đến làm việc. Cụ thể đã thuê các chị lần lượt là Lò Thị N , Lường Thị T , Lường Thị Th , Lường Thị S , Lường Thị C Thị H, Lò Thị X , Lường Thị L đến làm nhân viên tại quán. Bị cáo thỏa thuận , bị cáo bố trí cho các chị ăn ở tại quán mà không phải trả phí, công việc hàng ngày mát xa cho khách, bị cáo không trực tiếp thu tiền của khách, cuối ngày nhân viên đưa lại phần bị cáo được chia. Ngày 23/11/2018 Qu đến làm thuê cho bị cáo, công việc quản lý quán tại ngôi nhà số 106, còn bị cáo quản lý quán tại ngôi nhà không đánh số. Bị cáo có hướng dẫn Qu cách quản lý nhân viên cách ghi sổ từng lần mát xa của từng nhân viên, bị cáo không cho nhân viên bán dâm tại quán như lời khai của bị cáo Quyết. Bị cáo thừa nhận việc ghi chép trong hai quyển sổ thu giữ được là sổ ghi chép đánh dấu những lần nhân viên nữ tiếp khách, mỗi lần nhân viên nữ tiếp khách đánh dấu “X” hoặc dấu “X” khoanh tròn , chữ “X” có gạch ngang là nhân viên đã được trả tiền.

Người làm chứng trong vụ án là các anh Nguyễn Văn T , anh Vũ Tiến Đ trong quá trình điều tra có lời khai đều thể hiện nội dung: khoảng 13 giờ ngày 25/12/2018 anh Đ và anh T rủ nhau đến quán tẩm quất mát xa tại tổ 1, khu 4A phường C , khi đến quán anh T là người hỏi Qu và thỏa thuận mua dâm cho 2 người là 400.000đồng, anh T đã đưa cho Qu 400.000đồng, Qu bố trí cho các anh mỗi người 01 phòng , anh T ở tầng 1, anh Đ lên tầng trên, khi anh T và chị H , anh Đ và chị S quan hệ tình dục, bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của những người làm chứng khác là các chị: Lò Thị N , Lường Thị Th , Lường Thị S , Lường Thị H , Cà Thị H , Lò Thị X , Lường Thị L đều có lời khai thể hiện nội dung, khi các chị đến làm việc tại quán của T , T là người trực tiếp thỏa thuận với các chị, T bố trí cho các chị ăn ở ngay tại quán mà không mất phí, công việc là bán dâm hoặc mát xa kích dục cho khách, mỗi người được bố trí ở 01 phòng và thực hiện việc bán dâm hoặc kích dục cho khách tại phòng đó, T là người thu tiền của khách, mỗi lần khách mua dâm Tuân thu 200.000đồng, nhân viên được trả 100.000đồng, nếu khách chỉ kích dục T thu của khách 150.000đồng, nhân viên được trả 70.000đồng, hàng ngày số lần nhân viên tiếp khách được T ghi sổ, mỗi lần nhân viên bán dâm T đánh một dấu “X” , mỗi lần kích dục T ghi một dấu “X”trong vòng tròn, trên cơ sở đánh dấu, cuối ngày hoặc ngày hôm sau T trả tiền cho các chị theo thỏa thuận, khi trả tiền cho ai ngày nào thì đánh dấu gạch ngang. Cuối tháng 11/2018 có Qu đến làm thuê cho T , được T trả lương tháng, công việc của Qu quản lý quán thay T , T hướng dẫn Qu cách thu tiền của khách, cách ghi sổ, cuối ngày Qu giao tiền cho T , T hoặc Qu trả tiền cho các chị. 02 quyển sổ thu giữ tại hai quán của T , 01 quyển là của Qu một quyển là của T dùng để ghi chép tên và số lần bán dâm của các chị. Khoảng 13 giờ ngày 25/12/2108 khi chị X , chị H bán dâm cho anh T , anh Đ bị phát hiện bắt quả tang, chị X , chị L có mặt tại quán, chứng kiến công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.Tại thời điểm khám xét nơi ở của T tại ngôi nhà không đánh số tại tổ 1 khu 4A phường C, có mặt các chị T , Th , N đều xác định bị cáo T rời khỏi quán lúc 10 giờ ngày 25/12/2108.

Chị Lường Thị T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, có lời khai phù hợp lời khai của những người làm chứng trên về việc chị chứng kiến bị cáo T thoả thuận với nhân viên nữ khi họ đến làm việc, cũng như việc T hướng dẫn Quyết cách thu tiền, ghi chép sổ sách. Chị không đồng ý bán dâm mà làm công việc dọn dẹp được T đồng ý và trả tiền công cho chị 5.000.000đồng/tháng.

Tài liệu có trong hồ sơ vụ án còn có các tài liệu: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu; bản ảnh xác định địa điểm nơi Qu bố trí cho các chị S , H , X , L ; nơi T bố trí cho Th , N bán dâm tại quán do Qu và T quản lý, nội dung các tài liệu này phù hợp thống nhất lời khai của người làm chứng, phù hợp lời khai của bị cáo Qu . Kết quả nhận dạng, các chị Lò Thị N , Lường Thị Th , Lường Thị S , Lường Thị H , Cà Thị H, Lò Thị X , Lường Thị L đều nhận dạng Lê Hữu T là người bố trí cho các chị bán dâm tại quán của Tuân.

Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSCP, ngày 26/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Lê Hữu T và Lò Văn Qu về tội “Chứa mại dâm” theo điểm a khoản 3 Điều 327 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 327; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 12 (mười hai) năm đến 12 (mười hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/01/2019.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lò Văn Qu từ 10 (mười) năm đến 10 (mười) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 25/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định. Truy thu của bị cáo Lê Hữu T số tiền thu lợi bất chính là 79.000.000đồng nộp ngân sách nhà nước; truy thu của bị cáo Lò Văn Qu số tiền 5.400.000đồng là số tiền bị cáo Qu thu của khách mua dâm ngày 24/12/2018 nộp ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều trình bày các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt ở mức thấp nhất để các bị cáo sớm trở về xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau :

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy :

Bị cáo Lê Hữu T có lời khai khi ra đầu thú tại cơ quan điều tra khai nhận hành vi phạm tội, cụ thể bị cáo khai nhận, bị cáo là người bố trí cho các nhân viên nữ bán dâm tại hai ngôi nhà do bị cáo thuê tại tổ 1 khu 4A phường C thành phố Cẩm Phả, sau đó thay đổi lời khai và tại phiên tòa chỉ thừa nhận bị cáo có cho các nhân viên nữ tẩm quất, mát xa kích dục tại quán, không thừa nhận hành vi chứa mại dâm. Tại phiên toà bị cáo giải thích lý do bị cáo thay đổi lời khai, là do khi nhân viên của quán bị bắt bị cáo hoang mang khai nhận không chính xác, bị cáo không giải thích được sự khác nhau giữa chữ “X” và “X” được khoanh tròn trong sổ ghi chép đánh dấu số lần nhân viên tiếp khách. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo giải thích lý do thay đổi lời khai không có cơ sở và không phù hợp, nên không được chấp nhận.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Qu đều khai nhận, bị cáo đến làm thuê cho T , công việc là quản lý và bố trí cho nhân viên của quán bán dâm hoặc kích dục cho khách; những nhân viên nữ là gái bán dâm do bị cáo T nhận về làm việc tại quán là các chị Lò Thị N , Lường Thị Th , Lường Thị S , Lường Thị H g, Cà Thị H , Lò Thị X , Lường Thị L đều có lời khai xác nhận họ đều được Tuân bố trí phòng ở, ăn uống sinh hoạt ngay tại quán không phải trả tiền, khi có khách đến mua dâm hoặc mát xa kích dục thì họ thực hiện bán dâm hoặc kích dục cho khách ngay tại phòng T đã sắp xếp, mỗi lần họ tiếp khách đều được T hoặc Qu đánh dấu vào sổ để cuối ngày hoặc ngày hôm sau thanh toán tiền. 01quyển sổ thu giữ của Qu , 01 quyển sổ thu giữ tại nơi ở của T là cơ sở để T thanh toán tiền ăn chia tương ứng với số lần họ bán dâm hoặc kích dục cho khách. Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị cáo Qu và những người làm chứng là các gái bán dâm, cũng như lời khai của chị Lường Thị T là người làm công việc dọn dẹp tại quán của T đều phù hợp thống nhất, phù hợp các ký hiệu và chữ viết trong quyển sổ thu giữ của Qu , quyển sổ thu giữ khi khám xét nơi ở của T , ngoài ra còn phù hợp tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác minh địa điểm vị trí T , Qu đã bố trí cho nhân viên của quán bán dâm một số lần cụ thể mà các chị nhớ được.

Hội đồng xét xử đánh giá lời khai của bị cáo Qu , của người làm chứng là các chị Lường Thị L , Lường Thị H, Lường Thị X , Lường Thị X , Cà Thị H , Lường Thị Th , Lường Thị N , người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Lường Thị T , xét thấy lời khai tại phiên toà của bị cáo T về việc bị cáo không cho nhân viên nữ bán dâm tại quán là không có cơ sở; lời khai nhận tội của bị cáo Qu phù hợp lời khai của người làm chứng là gái bán dâm, phù hợp lời khai người làm chứng khác là anh Nguyễn Văn T , anh Nguyễn Tiến Đ , cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận.

Từ tháng 11 đến tháng 12/2018, tại tổ 1, khu 4B, phường C thành phố Cẩm Phả Lê Hữu T và Lò Văn Qu có hành vi tổ chức cho các chị Lò Thị N Lường Thị Th , Lường Thị S , Lường Thị H, Cà Thị H, Lường Thị L và chị Lò Thị X (trong đó chị Lò Thị X sinh ngày 13/6/2003, chưa đủ 16 tuổi), nhiều lần bán dâm cho nhiều người để kiếm lời. Tổng cộng những người bán dâm đã thực hiện bán dâm 704 lần, tổng số tiền thu của khách mua dâm là 140.800.000 đồng. Ngày 25/12/2018, khi Quyết đang thực hiện hành vi tổ chức cho chị Cà Thị H và Lường Thị S bán dâm tại căn nhà số 106 của T thuê, thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Hữu T, Lò Văn Qu phạm tội “Chứa mại dâm” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 327 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm tù. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống lành mạnh và nhân phẩm của con người, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình hiện nay, tội phạm về mại dâm nói chung và tội chứa mại dâm nói riêng đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại bệnh nan y nguy hiểm và các loại tội phạm cũng như tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người đủ nhận thức để biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mong muốn được hưởng lợi từ việc chứa mại dâm, các bị cáo cố tình thực hiện. Trong vụ án này các bị cáo đã tổ chức cho nhiều người, nhiều lần bán dâm trong thời gian dài, hơn nữa trong số người bán dâm có Lường Thị X là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về nhận thức, hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục dân tộc, mà còn nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần của họ. Pháp luật hình sự quy định xử phạt rất nghiêm khắc đối với tội phạm này, mục đích là để ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn mại dâm trong xã hội. Do vậy các bị cáo phải bị xử lý cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới đảm bảo giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Qu thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo T ra đầu thú, nên bị cáo Qu được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sư; bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo T đã bị kết án về tội “Mua bán người” bản án đã được xoá án tích, xác định bị cáo T có nhân thân xấu; bị cáo Qu trước đây chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào, nên xác định bị cáo Qu có nhân thân tốt.

[5] Trong vụ án này có đồng phạm, bị cáo Lê Hữu T là người khởi xướng, chuẩn bị địa điểm, trực tiếp thuê các nhân viên nữ về sắp xếp chỗ ở và là nơi bán dâm, là người được hưởng lợi nên T giữ vai trò đầu vụ, bị cáo Qu đến làm thuê cho bị cáo T, vai trò đồng phạm giúp sức, vai trò của bị cáo T cao hơn hẳn vai trò của bị cáo Qu.

Khi quyết định hình phạt với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét vai trò từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo cũng như nhân thân các bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[7] Đủ căn cứ xác định từ ngày 12/11/2018 đến ngày 24/12/2018 T và Qu thu được của khách mua dâm tổng số tiền là 140.800.000đồng thực tế trong số tiền này Tuân đã trả cho gái bán dâm 56.400.000đồng; trong ngày 24/12/2019 Quyết đã thu của khách đến mua dâm số tiền là 5.400.000đồng Quyết chưa kịp đưa lại cho T và chưa bị thu giữ, nên cần truy thu của T số tiền thu lợi bất chính là 79.000.000đồng và truy thu của Qu số tiền 5.400.000đồng nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về vật chứng vụ án: Số tiền 2.500.000đồng, xác định là của chị Lường Thị T, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên trả lại cho chị T. Số tiền 400.000 đồng Thu của Lò Văn Qu xác định là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. 01 bút bi mực màu xanh, vỏ nhựa màu trắng viền vàng; 10 vỏ bao cao su đã xé; 67 bao cao su, nhãn hiệu ONE TOUCH chưa qua sử dụng, xác định không còn giá trị sử dụng , nên tịch thu tiêu hủy. 01 quyển sổ thu giữ của bị cáo Qu 01 quyển sổ thu giữ tại nơi ở của bị cáo T , xác định là tài liệu đi theo hồ sơ, lưu trong hồ sơ vụ án.

[9] Đối với các đối tượng mua dâm chị Lò Thị X , tại thời điểm chị X bán dâm chị X chưa đủ 16 tuổi. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

[10] Về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 327; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu T 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/01/2019.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Qu phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Quyết 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 25/12/2018.

Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 ; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy : 01 bút bi mực màu xanh, vỏ nhựa màu trắng viền vàng; 10 vỏ bao cao su đã xé; 67 bao cao su nhãn hiệu ONE TOUCH chưa qua sử dụng Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm đồng); Trả cho chị Lường Thị Tươi số tiền 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) (Toàn bộ vật chứng, tình trạng như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số : 25/BB-THA, ngày 23/10/2019 giữa Công an thành phố Cẩm Phả với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.) Truy thu của bị cáo Lê Hữu T số tiền 79.000.000đồng (bảy mươi chín triệu đồng);Truy thu của bị cáo Lò Văn Qu số tiền 5.400.000đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Hữu T , Lò Văn Qu mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo,vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Lường Thị T , báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, báo cho chị Lường Thị T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 148/2019/HS-ST

Số hiệu:148/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cẩm Phả - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về