Bản án về tội chứa mại dâm số 135/2021/HSST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 135/2021/HSST NGÀY 17/06/2021 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 17 tháng 06 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2021/HSST ngày 20 tháng 04 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2021/QĐXXST- HS, ngày 4/6/2021 đối với bị cáo:

TTT, sinh năm 1982; Giới tính: Nữ.

Nơi ĐHKTT: NG, ĐG, TS Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn L, sinh năm 1957 và bà Trương Thị L, sinh năm 1957. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo có chồng Ngô Đức Hưng, sinh năm 1979. Có 02 con, con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án; Tiền sự: Không Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị CTS, sinh năm 1999; (Vắng mặt) HKTT: Thôn H, xã Phong D, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh.

2. Chị ĐTG, sinh năm 1984; (Vắng mặt) HKTT: Thôn 9, xã HQ, Quang Xương, Thanh Hoa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/12/2020, Thanh đang ở tầng 1 của quán Tẩm quất H3 thuộc khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thì có Hoàng Nam L và Nguyễn Văn Thái đến gặp Thanh. Sau đó, Linh nói với Thanh: "Chị cho em đi giải đen chịch xã giao cái, gọi cho em hai em nhân viên trẻ chị có hoa hồng” (Thanh hiểu ý Linh nói với Thanh bảo Thanh gọi cho 02 gái bán dâm đến quán do Thanh quản lý để bán dâm cho Linh và Thái) T đồng ý, Thanh nói “tiền phòng 150.000 đồng/1 người”. Linh đưa cho Thanh 500.000 đồng, Thanh nhận tiền rồi trả lại cho Linh 200.000 đồng. Sau đó, Thanh bảo Thái lên phòng 308 thì có ĐTG là gái bán dâm tại quán của Thanh đang ở trong phòng. Tại phòng 308 Thái đưa trả cho Linh 500.000 đồng tiền mua dâm. Linh nhận tiền rồi quan hệ tình dục với Thái. Còn Linh vào phòng 204 đợi Thanh gọi gái bán dâm đến. Sau đó, Thanh sử dụng số điện thoại Iphone 7 lắp sim số 0966.673.243 gọi đến số sim 0375.095.899 lắp ở điện thoại Nokia 105 của CTS đến bán dâm cho Linh. Khoảng 05 phút sau Sạch đến Thanh bảo Sạch vào phòng 204 bán dâm cho Linh. Khi Sạch vào phòng 204 Linh đưa cho Sạch 500.000 đồng để mua dâm. Sạch nhận tiền rồi quan hệ tình dục với Linh. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang. Tại phòng 204 Linh và Sạch đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tại phòng 308 Thái và Giang đang thực hiện hành vi mua bán dâm và thu giữ toàn bộ số vật chứng gồm:

- Tại phòng 204: 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao đã sử dụng, số tiền 500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0375.095.899 của CTS giao nộp;

- Tại phòng 308: 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao đã sử dụng, số tiền 500.000 đồng do ĐTG giao nộp; 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 lắp sim số 0966.673.342 của TTT.

Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 80/Ctr - VKSTS ngày 16/04/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố TTT về tội: Chứa mại dâm theo khoản 1 Điều 327 BLHS.

Tại phiên tòa, TTT khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo TTT phạm tội: Chứa mại dâm. Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s, n khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt TTT từ 13 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 BLHS:

Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao cao su, 02 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0375.095.899 của CTS; 01 sim số 0966.673.342 của TTT.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng của CTS; 500.000 đồng của ĐTG và 200.000 đồng của TTT là tiền phòng mua bán dâm.

Ngoài ra, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 đã qua sử dụng của CTS, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 đã qua sử dụng của TTT.

Truy thu của Thanh 100.000đ.

Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo miễn phạt tiền vì vợ chồng bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, bản thân bị cáo phải nuôi con nhỏ, gia đình không có tài sản riêng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 28/12/2020, tại cơ sở “Tầm quất H3” thuộc NG, ĐG, TS TTT có hành vi cho hai đôi nam nữ gồm: Hoàng Nam Linh và CTS mua bán dâm tại phòng 204; Nguyễn Văn Thái và ĐTG mua bán dâm tại phòng 308 thì bị Công an thị xã Từ Sơn bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo TTT đã đủ yếu tố cấu thành tội: Chứa mại dâm, được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, bản sắc, nếp sống văn hóa mới của dân tộc và là nguy cơ lây truyền những căn bệnh nguy hiểm. Biết vậy, nhưng chỉ vì động cơ trục lợi, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội . Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và đảm bảo được việc răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị có không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Sau khi phạm tội, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị cáo phạm tội đang có thai, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có đơn trình bày về điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo mới sinh con, xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo là khó khăn, do vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] 02 vỏ bao cao su, 02 bao cao su đã qua sử dụng; 01 sim số 0375.095.899 của CTS; 01 sim số 0966.673.342 của TTT là tang vật vụ án không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Số tiền 500.000 đồng của CTS; 500.000 đồng của ĐTG và 200.000 đồng của TTT là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Công quĩ Nhà nước.

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 đã qua sử dụng của CTS, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 đã qua sử dụng của TTT là tang vật của vụ cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Liên quan trong vụ án còn có:

[7.1] Đối với ĐTG và CTS là người đã thực hiện hành vi bán dâm, Nguyễn Văn Thái và Hoàng Nam Linh là những người thực hiện hành vi mua dâm. Công an thị xã Từ Sơn đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Thái và Linh, Giang Sạch là phù hợp.

[7.2] Đối với anh Ngô Xuân Hiệp theo TTT khai nhận là người đứng tên trong đăng ký kinh doanh cơ sở tẩm quất H3 hiện không có mặt tại địa phương. Kiến nghị cơ quan điều tra khi nào làm rõ được sẽ đề nghị xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo TTT phạm tội Chứa mại dâm.

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản khoản 2 Điều 106; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Xử phạt: TTT 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao cao su, 02 bao cao su đã qua sử dụng. 01 sim số 0375.095.899 của CTS; 01 sim số 0966.673.342 của TTT.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng của CTS; 500.000 đồng của ĐTG và 200.000 đồng của TTT. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 đã qua sử dụng của CTS, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 đã qua sử dụng của TTT.

Truy thu của TTT 100.000đ.

4. Về án phí: Bị cáo TTT phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

139
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 135/2021/HSST

Số hiệu:135/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Từ Sơn - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về