TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
BẢN ÁN 25/2023/HS-ST NGÀY 24/05/2023 VỀ TỘI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải D2, Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 19/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; nơi sinh và cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị T2; vợ là Nguyễn Thị N; tiền án : Bản án số 34/2020/HSST ngày 11/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp án phí ngày 21/9/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2021, tiền sự: Chưa; nhân thân: Bản án số 04/2014/HSST ngày 20/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện An D2, thành phố Hải Phòng. Xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 11/02/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2015; Bản án số 29/2017/HSST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp án phí ngày 09/8/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2018 Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/02/2023, chuyển tạm giam ngày 03/3/2023 tại trại giam Công an tỉnh Hải D2 (bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần).
Người bào chữa cho bị cáo do trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hải D2 chỉ định: Bà Ngô Thị Xuân Th – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hải D2. (bà Th có mặt tại điểm cầu trung tâm) * Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Quang T1; Nguyễn Văn T3; Nguyễn Thị N (đều vắng mặt) * Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần:
1. Bà Hoàng Thị Thùy D2 – Thư ký TAND huyện Thanh Hà.
2. Ông Nguyễn Quang H1 - Kiểm sát viên VKSND huyện Thanh Hà.
3. Ông Vũ Xuân Hợp - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải D2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T và Nguyễn Quang T1 là bạn bè. Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 28/02/2023, T1 đi bộ từ nhà, khi đi có mang theo 01 bơm kim tiêm nhựa, ma túy hêrôin, ống nước cất đến nhà T, T1 hỏi T cho sử dụng nhờ ma túy, T đồng ý cho T sử dụng ma túy tại nhà ngang của mình. Tại đây T1 cho số ma túy vào bơm kim tiêm, dùng bơm kim tiêm hút nước cất rồi lắc đều cho ma túy hòa tan trong ống kim tiêm, sau đó chích qua ven trên cánh tay đưa ma túy vào trong cơ thể T1. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an huyện Thanh Hà phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại nền phòng ngủ nhà ngang của T, tại vị trí T1 sử dụng ma túy gồm 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng còn bám dính chất lỏng màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc còn bám dính chất bột màu trắng; 01 ống thủy tinh có chữ màu đỏ bám dính chất lỏng màu trắng đã bị vỡ ở phần đầu ống.
Kết luận giám định số 178/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải D2 kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại hêrôin trong mẫu chất lỏng màu đỏ bám dính bên trong bơm kim tiêm nhựa (loại 3ml) được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định. Lượng mẫu chất lỏng màu đỏ bám dính trong bơm kim tiêm nhựa (loại 3ml) rất nhỏ nên không xác định được thể tích; chất bột mầu trắng bám dính bên trong gói giấy được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định là ma túy, loại hêrôin; Lượng bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại hêrôin trong mẫu chất lỏng không mầu bám dính bên trong ống thủy tinh được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định, lượng mẫu bám dính trong ống thủy tinh rất nhỏ nên không xác định được thể tích.
Tại cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 18/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Trợ giúp viên pháp lý trình bày luận cứ bào chữa; bị cáo T thừa nhận đã dùng nhà ở của mình làm địa điểm cho T1 sử dụng trái phép chất ma túy như cáo trạng đã mô tả và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 256, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Luật án phí lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 bơm kim tiêm nhựa (loại 3ml) bên ngoài in dòng chữ DISCARD APTER USE; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu novocain bị vỡ ở phần đầu; 01 gói giấy kích thước 01 cm x 02cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 8 giờ 30 phút ngày 28/02/2023, Nguyễn Văn T đồng ý để cho Nguyễn Quang T1 sử dụng phòng ngủ nhà ngang của mình; địa chỉ thôn Đ, xã Q, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 làm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy, trong khi T1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt giữ.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo cách ly xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bản án số 34/2020/HSST ngày 11/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải D2 chưa được xóa án tích, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt; các năm 2014, 2017 đã bị xét xử về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó để tu dưỡng, rèn luyện. Cần quyết định mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
- Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Đối với anh Nguyễn Quang T1 thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Thanh Hà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42 ngày 20/3/3023 đối với anh T1.
[6] Đối với chị Nguyễn Thị Ngân(vợ bị cáo) không biết T dùng nhà ở làm địa điểm chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Anh Nguyễn Văn T3 có mặt tại nhà bị cáo nhưng không sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận sáng ngày 27/2/2023, bị cáo sử dụng ma túy tại nhà, nguồn gốc mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại Hải Phòng, ngoài lời khai của T, không có tài liệu khác chứng minh, chưa đủ căn cứ xử lý.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 bơm kim tiêm nhựa (loại 3ml) bên ngoài in dòng chữ DISCARD APTER USE; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu novocain bị vỡ ở phần đầu; 01 gói giấy kích thước 01 cm x 02cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là công cụ liên quan đến tội phạm và là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.
[9] Gian nhà ngang có nguồn gốc làm trên đất của ông C (bố đẻ bị cáo), ông C không biết bị cáo sử dụng làm địa điểm chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy HĐXX không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 256; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51;
khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.
3. Về vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bơm kim tiêm nhựa (loại 3ml) bên ngoài in dòng chữ DISCARD APTER USE; 01 ống thủy tinh nhãn hiệu novocain bị vỡ ở phần đầu; 01 gói giấy kích thước 01 cm x 02cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bản án về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy số 25/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 25/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thanh Hà - Hải Dương |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 24/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về