TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 13/2025/HS-ST NGÀY 22/07/2025 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
Ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2-Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 LT theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình D, sinh năm 1996 tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã N, tỉnh T (nay là Tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Gia đình 04 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Vợ Lê Ngọc L, sinh năm 1996 và có 02 con; con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
+ Ngày 21/4/2015 bị Công an huyện T, tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với số tiền 750.000 đồng bị can nộp phạt vào ngày 26/01/2015.
+ Ngày 25/9/2020 bị Công an huyện T, tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với số tiền 3.000.000 đồng bị can chưa nộp phạt.
- Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Long Thành.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Như Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ cũ: Tổ x, khu phố x, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ mới: Tổ x, khu phố x, phường Long Bình, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1.Anh Cao Hoàng H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ cũ: Khu phố Long Đức 01, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ mới: Khu phố Long Đức 01, phường T, tỉnh Đồng Nai.
2.Anh Bùi Đình T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ cũ: Tổ 6x, Khu phố x, thị trấn V, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ mới: Tổ 6x, Khu phố x, xã T tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 20 giờ ngày 26/10/2022 tổ công tác tuần tra gồm các đồng chí Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Trọng H, Trần Như Đ, Đặng Hải B, Nguyễn Văn Ư (Cán bộ đội Cảnh sát giao thông–trật tự Công an huyện L) do đồng chí Nguyễn Ngọc A làm tổ trưởng được phân công thực hiện việc tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm giao thông tại km 29+800 đường 769 thuộc địa bàn xã L, huyện L, tỉnh Đ. Đến 21 giờ cùng ngày đồng chí Nguyễn Trọng H phát hiện xe ô tô tải ben biển số 36H-xxx.68 do Nguyễn Đình B điều khiển lưu thông hướng Quốc lộ 51 đi xã B có dấu hiệu vi phạm nên ra hiệu lệnh dừng xe, nhưng B không chấp hành hiệu lệnh nên đồng chí Trần Như Đ sử dụng xe mô tô đặc chủng biển kiểm soát số 60A1-xxx.04 đuổi theo yêu cầu dừng xe. Cùng lúc này, Nguyễn Đình D điều khiển xe mô tô biển số 36C1-xxx.56 vượt lên phía trước lạng lách, đánh võng, chèn ép nhằm mục đích cản trở đồng chí Đ thực hiện nhiệm vụ, quãng đường D có hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chèn ép cản trở đồng chí Đ thực hiện nhiệm vụ khoảng 04 km. Khi đến hầm chui đường cao tốc thuộc xã Bình Sơn do D điều khiển xe với tốc độ nhanh, lạng lách, đánh võng nên xe do D điều khiển bị té ngã, do khoảng cách quá gần nên xe do đồng chí Đ điều khiển va chạm vào xe của D làm người và xe té ngã xuống đường. Ngay lúc này đồng chí Đ cùng quần chúng nhân dân khống chế D và đưa về trụ sở Công an xã B làm việc. Tại đây, D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra Nguyễn Đình D khai nhận: Xe ô tô tải ben biển số 36H-xxx.68 là của D chủ sở hữu tự cơi nới về chiều cao thùng xe và không đủ giấy tờ hợp lệ nên khi phát hiện lực lượng cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe do lo sợ bị xử phạt nên D đã có hành vi điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng ép xe của cảnh sát giao thông (đồng chí Đ) điều khiển nhằm mục đích cản trở thi hành công vụ.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 36C1-xxx.56.
Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKSLT ngày 10/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Đình D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình D và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
Xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 36C1-xxx.56 qua xác minh xe này do anh Lê Đức Đ, sinh năm 1967 trú tại H, xã T thị xã N, tỉnh T đứng tên chủ sở hữu, anh Đạt khai đã bán lại cho người khác và chưa làm thủ tục sang tên, D khai xe này D mượn của một người tên C không rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra
– Công an tỉnh Đồng Nai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về căn cứ áp dụng điều luật:
Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 26/10/2022 tại tại km 29+800 đường 769 thuộc địa bàn xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Nguyễn Đình D đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 36C1-xxx.56 lạng lách, đánh võng, chèn ép để cản trở lực lượng cảnh sát giao thông (đồng chí Đ) đang thi hành nhiệm vụ điều khiển xe mô tô đặc chủng đuổi theo xe ô tô tải ben biển số 36H-xxx.68 do Nguyễn Đình B điều khiển vi phạm giao thông để yêu cầu dừng xe kiểm tra. Bị cáo D điều khiển xe lạng lách cản trở khoảng 04 km, khi đến hầm chui đường cao tốc thuộc xã Bình Sơn do bị cáo D điều khiển xe với tốc độ nhanh, lạng lách, đánh võng nên xe do bị cáo D điều khiển bị té ngã, do khoảng cách quá gần nên xe do đồng chí Đ điều khiển va chạm vào xe của bị cáo D làm người và xe té ngã xuống đường.
Ngay lúc này đồng chí Đ cùng quần chúng nhân dân khống chế D và đưa về trụ sở Công an xã Bình Sơn làm việc. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình D đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]Hành vi của bị cáo D là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[4]Tình tiết tăng nặng: Không.
[5]Tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6]Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 36C1-xxx.56 qua xác minh xe này do anh Lê Đức Đ, sinh năm 1967 trú tại HL, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đứng tên chủ sở hữu, anh Đạt khai đã bán lại cho người khác và chưa làm thủ tục sang tên, D khai xe này D mượn của một người tên Cường không rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Áp dụng khoản 1 Điều 330 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/5/2025.
2.Xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 36C1-xxx.56 qua xác minh xe này do anh Lê Đức Đ, sinh năm 1967 trú tại HL, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đứng tên chủ sở hữu, anh Đ khai đã bán lại cho người khác và chưa làm thủ tục sang tên, D khai xe này D mượn của một người tên Cường không rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đình D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Nguyễn Đình D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Như Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội chống người thi hành công vụ số 13/2025/HS-ST ngày 22/07/2025
| Số hiệu: | 13/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/07/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về