TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
BẢN ÁN 11/2024/HS-ST NGÀY 12/01/2024 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 338/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 336/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lại Nhân N (Sin) sinh ngày 19 tháng 02 năm 1993 tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn V, xã T, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn D (sinh năm 1968) và bà Lê Thị H (sinh năm 1967); có vợ là Nguyễn Thị Phương T (sinh năm 1995) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 101/2020/HS-PT ngày 15/10/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt Lại Nhân N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/10/2022; tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 107/2012/HSST ngày 11/12/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã xử phạt Lại Nhân N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án; chấp hành xong hình phạt ngày 11/12/2013 (đã chấp hành xong khoản tiền án phí); tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2015/HSST ngày 15/01/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã xử phạt Lại Nhân N 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2016 (đã chấp hành xong khoản tiền án phí); ngày 09/12/2020 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 109/QĐ-XPHC đối với Lại Nhân N bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 2.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 27/12/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17934/QĐ-XPVPHC đối với Lại Nhân N bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ”; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2023; bị tạm giam từ ngày 13/6/2023; có mặt.
- Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Tnh Xuân H sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 12 N, phường H, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc T sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 1170/23 đường 2 tháng 4, phường T, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số 576/19 C, xã T, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Minh P sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 19 P, phường P, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
4. Bà Trần Thị Mỹ M sinh ngày 16/01/1967; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, phường G, Thị xã H, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số 224 K, phường H, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
5. Anh Phan Trọng H sinh ngày 05/4/1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 13C V, phường H, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số 13 V, phường H, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
6. Ông Ngô Thanh H sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 220 đường 2 tháng 4, phường H, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn H P sinh ngày 22/10/1997; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 16 T, phường T, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số 41/26 G, phường S, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
2. Ông Lê Hoan H sinh năm 1957; nơi cư trú: Số 67 S, phường S, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Xuân H sinh năm 1991; nơi cư trú: Ô 2 Lô 44 đường H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
4. Anh Nguyễn P L sinh năm 1991; nơi cư trú: Số 132/27 V, phường T, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Thực hiện Kế hoạch số 665/KH-CATP-CSHS ngày 14/4/2023 của Công an thành phố Nha Trang về việc tuần tra, kiểm soát phòng ngừa, đấu tranh trấn áp tội phạm về trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Nha Trang; vào khoảng 02 giờ 40 phút ngày 07/6/2023, Tổ công tác của Công an thành phố Nha Trang do đồng chí Thượng úy Nguyễn Ngọc T làm Tổ trưởng cùng với đồng chí Đại úy Tnh Xuân H và 04 cán bộ Công an thành phố Nha Trang đang tuần tra trên đường Phương Sài; khi đến ngã 3 đường Phương Sài giao với đường Bến Cá thì phát hiện Lại Nhân N cùng đối tượng “anh Hai” (chưa rõ lai lịch) và Nguyễn H P đang dừng trước nhà số 68D đường Phương Sài có biểu hiện nghi vấn, nên Tổ công tác đến kiểm tra, giới thiệu rõ là lực lượng công an đi làm nhiệm vụ và xuất trình thẻ chứng minh Công an nhân dân; yêu cầu các đối tượng xuất trình giấy tờ để kiểm tra thì N và đối tượng “anh Hai” không chấp hành mà bỏ chạy; đồng chí H đuổi theo để khống chế thì N rút ra từ túi xách một khẩu súng ngắn màu đen bắn về phía Tổ công tác để tẩu thoát nhưng không trúng. Ngay sau đó, đồng chí H cùng Tổ công tác đã kịp thời khống chế N bắt quả tang cùng tang vật về trụ sở Công an phường Phương Sài, thành phố Nha Trang.
Làm việc tại Công an phường Phương Sài, Lại Nhân N khai nhận là vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, sau khi N sử dụng ma túy tại khu vực Lầu 7 phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang cùng “anh Hai” thì N nhận được điện thoại của P nhờ đi đánh nhau; N đồng ý và nhờ “anh Hai” chở đi cùng; N mang theo túi xách bên trong có 01 khẩu súng ngắn, 02 băng đạn, 37 viên đạn và 02 dao bấm. Đến khoảng 02 giờ 40 phút cùng ngày, N cùng “anh Hai” gặp P tại trước nhà số 68D đường Phương Sài, phường Phương Sài thì bị Tổ công tác Công an thành phố Nha Trang đến yêu cầu kiểm tra thì N không chấp hành và rút súng ngắn bắn về phía Tổ công tác để tẩu thoát thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, truy tố, Lại Nhân N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại bản Kết luận giám định số 296/2023/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: 01 khẩu súng ngắn màu đen, xám trên thân súng dòng chữ “Lock 19 AUSTRIA 9X19” (ký hiệu A1); 01 hộp tiếp đạn bị bung lò xo (ký hiệu A2); 25 viên đạn màu vàng đồng hình trụ dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, đầu đạn màu đen, dưới đáy viên đạn có dòng chữ OZK 9mm P.A (ký hiệu A3); 01 hộp tiếp đạn bên trong đã được lắp 11 viên đạn màu vàng đồng hình trụ dài khoảng 02cm (ký hiệu A4); 01 vỏ đạn màu vàng đồng hình trụ dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, dưới đáy viên đạn có dòng chữ OZK 9mm P.A (ký hiệu A5) mà N mang theo, sử dụng không phải là vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, là công cụ hỗ trợ.
Tại bản cáo trạng số 253/CT-VKSNT-HS ngày 27/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lại Nhân N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ, do Lại Nhân N chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ, nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà vi phạm hành chính tại điểm c khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ; ngày 27/12/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17934/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ”.
Tại Pên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lại Nhân N; đề nghị xử phạt bị cáo Lại Nhân N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại Pên tòa, nên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn màu đen, xám trên thân súng dòng chữ “Lock 19 AUSTRIA 9X19”; 01 hộp tiếp đạn bị bung lò xo; 25 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, đầu đạn màu đen, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A”; 01 hộp tiếp đạn bên trong đã được lắp 11 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm;
01 vỏ đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A” (Được niêm phong trong túi niêm phong số 1909442); 02 con dao bấm có cán màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm; trả lại cho bà Trần Thị Mỹ M 01 biển kiểm soát 79Z1-X (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang lập ngày 22/11/2023).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại Pên tòa, những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Tnh Xuân H, ông Nguyễn Ngọc T anh Phan Trọng H và ông Ngô Thanh H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Minh P và bà Trần Thị Mỹ M; những người làm chứng là anh Nguyễn H P, ông Lê Hoan Hỉ, anh Nguyễn Xuân Hưng và anh Nguyễn P Long đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại Pên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến kH nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án:
Tại Pên tòa sơ thẩm, bị cáo Lại Nhân N đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án đã thu giữ; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án; cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại Pên tòa, đã thể hiện: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 07/6/2023, tại trước nhà số 68D đường Phương Sài, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, Tổ công tác về việc tuần tra, kiểm soát phòng ngừa, đấu tranh trấn áp tội phạm về trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Nha Trang đang làm nhiệm vụ phát hiện Lại Nhân N có biểu hiện nghi vấn và yêu cầu kiểm tra, nhưng Lại Nhân N không chấp hành mà sử dụng khẩu súng ngắn màu đen bắn đạn công cụ hỗ trợ về phía Tổ công tác để tẩu thoát; do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Lại Nhân N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lại Nhân N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hiệu lực quản lý của cơ quan nhà nước cũng như trật tự T an tại địa phương; bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo còn có nhân thân xấu; do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có bà nội là bà Nguyễn Thị Liến là Bà mẹ Việt Nam anh hùng; do đó, cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại Pên tòa, những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Tnh Xuân H, ông Nguyễn Ngọc T, anh Phan Trọng H và ông Ngô Thanh H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/12/2023, những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Tnh Xuân H, ông Nguyễn Ngọc T, anh Phan Trọng H và ông Ngô Thanh H không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Minh P và bà Trần Thị Mỹ M vắng mặt tại Pên tòa, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, nên tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[5] Về vật chứng vụ án: Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang lập ngày 22/11/2023, vật chứng vụ án gồm có:
+ 01 khẩu súng ngắn màu đen, xám trên thân súng dòng chữ “Lock 19 AUSTRIA 9X19”; 01 hộp tiếp đạn bị bung lò xo; 25 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, đầu đạn màu đen, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A”; 01 hộp tiếp đạn bên trong đã được lắp 11 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm; 01 vỏ đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A” (Được niêm phong trong túi niêm phong số 1909442); xét thấy đây là vật chứng của vụ án, là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu và tiêu hủy.
+ 02 con dao bấm có cán màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm; xét thấy đây là vật không có giá T, nên tịch thu và tiêu hủy.
+ 01 biển kiểm soát 79Z1-X; xét thấy đây không phải là vật chứng của vụ án và là tài sản của bà Trần Thị Mỹ M, nên trả lại cho bà Trần Thị Mỹ M.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lại Nhân N,
Xử phạt Lại Nhân N (Sin) 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.
* Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi những người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Minh P và bà Trần Thị Mỹ M có đơn yêu cầu.
* Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 89; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 khẩu súng ngắn màu đen, xám trên thân súng dòng chữ “Lock 19 AUSTRIA 9X19”; 01 hộp tiếp đạn bị bung lò xo; 25 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, đầu đạn màu đen, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A”; 01 hộp tiếp đạn bên trong đã được lắp 11 viên đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm; 01 vỏ đạn màu vàng đồng, hình trụ, dài khoảng 02cm, đường kính khoảng 09mm, dưới đáy viên đạn có dòng chữ “OZK 9mm P.A” (Được niêm phong trong túi niêm phong số 1909442); 02 con dao bấm có cán màu đen dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm.
+ Trả lại cho người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là bà Trần Thị Mỹ M 01 biển kiểm soát 79Z1-X.
(Số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang lập ngày 22/11/2023).
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại Pên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại Pên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội chống người thi hành công vụ số 11/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 11/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về