TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 07/2025/HS-ST NGÀY 06/03/2025 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
Ngày 06 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 15 tháng 5 năm 1988 tại Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Lê Thị B; Vợ: Lang Thị N, sinh năm 1990; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/10/2010, Lê Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố S xử phạt 8 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong bản án ngày 30/8/2013 (đặc xá).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại cơ sở giam giữ thành phố S, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1995, Địa chỉ: Tổ 8, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Là cán bộ Cảnh sát giao thông Công an thành phố S (có đơn xin vắng mặt)
-Người làm chứng:
+ Anh Lê Hồng C, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Du Tán, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên
+ Anh Đỗ Xuân H, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, phường Quang V, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
+ Anh Bùi Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Tẻ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
+Anh Dương Hoàng T, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đồi, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/10/2024, tổ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tựu an toàn giao thông của Đội cảnh sát giao thông – trật tư công an thành phố S làm nhiệm vụ tại đường Thống Nhất, thuộc tổ dân phố Hợp Thành, phường Thắng Lợi, TP S theo kế hoạch số 360/KH-CAT-PC08 ngày 10/8/2024 của Công an tỉnh Thái Nguyên và kế hoạch 3715/KH-CÁC(CSGT) ngày 30/9/2024 của Công an thành phố S. Theo kế hoạch công tác, khoảng 06 giờ 55 phút, thượng úy Nguyễn Xuân V thuộc tổ công tác của Công an thành phố S được giao làm nhiệm vụ kiểm tra, xử lý các vi phạm không đội mũ bảo hiểm, không có gương chiếu hậu và các hành vi vi phạm khác trên đoạn đường Thống Nhất thuộc tổ dân phố Hợp Thành, thành phố S, phát hiện anh Lê Hồng C điều khiển xe mô tô mang BKS 16S5- xxxx, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng, không đội mũ bảo hiểm, chở Lê Văn T ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm, đi từ ngõ 14, đường Thống Nhất đi ra trục đường Thống Nhất để đi về hướng Ngã tư Việt Đức. Lúc này, đồng chí V đã dùng gậy giao thông ra tín hiệu yêu cầu Lê Hồng C dừng xe để thực hiện việc kiểm tra, thấy vậy Lê Văn T ngồi phía sau nhảy xuống xe, chạy lên hành lang đường bên phải theo hướng Ngã tư Việt Đức đi trường Cao đẳng công nghiệp Việt Đức, còn C không chấp hành yêu cầu hiệu lệnh của thượng úy V mà tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy ngược lại theo hướng ngã tư Việt Đức đi trường Cao đẳng công nghiệp Việt Đức. Đi được khoảng 20m thì C gặp tổ công tác Công an thành phố S đang làm nhiệm vụ nên C đã điều khiển xe quay ngược lại thì đồng chí V tiếp tục dùng gậy giao thông, còi giao thông ra tín hiệu dừng xe nên C đã dừng xe lại.
Khi thượng úy Nguyễn Xuân V đang tiến hành kiểm tra hành chính đối với C thì Lê Văn T chạy từ hành lang đường Thống Nhất đến vị trí của đồng chí V đang làm nhiệm vụ, dùng hai tay giằng co, ôm, lôi, kéo, ru đẩy không cho thượng úy Nguyễn Xuân V thực hiện nhiệm vụ và vòng tay ôm từ phía sau tiếp tục có hành vi du, đẩy đồng chí V rồi đi lên hành lang đường. Thấy vậy các thành viên tổ công tác đến để khống chế thì Thìn bỏ chạy khỏi hiện trường. Việc giằng co khiến thượng úy V bị thương tích ở mặt trong 1/3 dưới cánh tay trái, có nhiều dấu vết bầm tím, trên diện 18x10cm. Tổ công tác đã yêu cầu C điều khiển phương tiện lên hành lang đường để làm việc, sau đó tổ công tác báo cáo công an thành phố S và phối hợp cùng đội Điều tra tổng hợp, Công an phường Thắng Lợi, thành phố S đến lập biên bản sự việc, khám nghiệm hiện trường. Sau đó, thượng úy Nguyễn Xuân V được đưa đến Bệnh viện C - Thái Nguyên điều trị thương tích đến ngày 25/10/2024 thì ra viện.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã khám nghiệm hiện trường vụ việc xác định, vụ việc xảy ra tại đường Thống Nhất, thuộc địa phận tổ dân phố Hợp Thành, phường Thắng Lợi, thành phố S. Nơi xảy ra vụ việc là đường hai chiều, trải nhựa, có chiều rộng mặt đường là 10,8m. Xác định vị trí Lê Văn T có hành vi chống người thi hành công vụ là phần đường bên phải theo chiều hướng ngã tư Việt Đức đi trường Cao đằng Công nghiệp Việt Đức.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám
định pháp y về thương tích đối với anh Nguyễn Xuân V.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 827/KLTTCT- TTPY ngày 04/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Hiện tại có 03 vết thương phần mền kích thước nhỏ. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT– BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân V tại thời điểm giám định là 3% (ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. Cơ chế hình thành vết thương do vật tày.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng đã qua sử dụng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius, màu sơn Trắng, đen, biển kiểm soát 16S5 – xxxx thu giữ của Lê Hồng C vào ngày 22/10/2024. Ngày 08/01/2025, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S đã trả lại cho anh C quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Thượng úy Nguyễn Xuân V không yêu cầu Thìn bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu đề nghị nào khác.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên cáo trạng đối với bị cáo Lê Văn T về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; Về án phí: Đề nghị xem xét theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là không oan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hạivà các chứng cứ, tài liệu khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 06 giờ 55 phút, tại đoạn đường Thống Nhất đi ra trục đường Thống Nhất để đi về hướng ngã tư Việt Đức. Khi tổ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tựu an toàn giao thông của Đội cảnh sát giao thông – trật tư công an thành phố S làm nhiệm vụ tại đường Thống Nhất, thuộc tổ dân phố Hợp Thành, phường Thắng Lợi, TP S theo kế hoạch số 360/KH-CAT-PC08 ngày 10/8/2024 của Công an tỉnh Thái Nguyên và kế hoạch 3715/KH-CÁC(CSGT) ngày 30/9/2024 của Công an thành phố S, tổ công tác phát hiện Lê Hồng C điều khiển xe mô tô chở Lê Văn T không đội mũ bảo hiểm. Thấy tổ công tác đang làm nhiệm vụ, Thìn ngồi phía sau xe đã nhảy xuống đi lên vỉa hè. Khi thượng úy Nguyễn Xuân V thực hiện tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lê Hồng C thì Lê Văn T chạy từ hành lang đường Thống Nhất đến vị trí của thượng úy Nguyễn Xuân V đang làm nhiệm vụ, dùng hai tay giằng co, ôm, lôi, kéo, ru đẩy và vòng tay ôm từ phía sau tiếp tục có hành vi du, đẩy đồng chí V nhằm mục đích cản trở không cho thượng úy V thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đối với C. Việc giằng co khiến đồng chí V bị thương tích ở mặt trong 1/3 dưới cánh tay trái, có nhiều dấu vết bầm tím, trên diện 18x10cm.
Hành vi nêu trên của bị cáo Thìn đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố S truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo Thìn là do nông nổi nhất thời, muốn giúp bạn mình (C) trốn tránh việc kiểm tra và xử lý của Công an giao thông. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý hành chính, cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ, làm giảm hiện quả trong công tác quản lý hành chính, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, nên phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo sinh ra lớn lên trong gia đình đông anh chị em. Năm 2010 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố S xử phạt 8 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong bản án ngày 30/8/2013 (được đặc xá). Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo sinh sống ổn định cùng gia đình, kết hôn, sinh con. Trước khi bị bắt bị cáo làm công việc tự do, không có hành vi vi phạm gì khác.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không chịu tình tiết tặng nặng nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Ngoài ra, thượng úy Nguyễn Xuân V có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đề nghị bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone Xsmax, màu vàng đã qua sử dụng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius, màu sơn Trắng, đen, biển kiểm soát 16S5 – xxxx thu giữ của Lê Hồng C, xét thấy cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho anh C là đúng quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, điều 136 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 326, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bẩy) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 25/11/2024. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3.Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
4.Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tội chống người thi hành công vụ số 07/2025/HS-ST ngày 06/03/2025
| Số hiệu: | 07/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Sông Công - Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 06/03/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về