Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 60/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 60/2024/HS-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Huyền H, sinh năm 1982 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị C; có chồng Đoàn Văn C1 và 2 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Quách Thị T, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Những người làm chứng: Anh Đoàn Văn C2, anh Nguyễn Văn C3, anh Nguyễn Văn H1, anh Vũ Văn K, anh Nguyễn Văn P, chị Quách Thị T1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Huyền H và chị Quách Thị T có quan hệ quen biết xã hội với nhau. Khoảng giữa tháng 3/2023, do cần tiền sử dụng vào việc cá nhân, chị T đến nhà H hỏi vay tiền, không có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và H đồng ý cho vay với mức lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày. Khi vay chị T viết giấy xác nhận số tiền vay, H ghi giấy vay, số tiền vay và hình thức trả lãi (tước hoặc sau). Hai bên thoả thuận trả lãi trước là sau khi vay, sẽ tính số tiền vay nhân với 3.000 đồng/1 triệu và nhân với 30 ngày (01 tháng) ra số tiền lãi phải trả trước; trả lãi sau là tính từ ngày vay đến ngày trùng của tháng tiếp theo, sẽ phải trả lãi với cách tính như lãi trả trước. Việc cho vay tiền, trả nợ, trả lãi giữa H và chị T thực hiện qua giao dịch chuyển khoản hoặc trực tiếp đưa tiền mặt. H sử dụng ứng dụng chuyển tiền qua số tài khoản 10687042xxxx mở tại Ngân hàng TMCP C4 và số tài khoản 96812xxxx mở tại Ngân hàng TMCP Q được cải đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn sim thuê bao số 096812xxxx của H để thực hiện các giao dịch với chị T qua số tài khoản 6868198xxxx mở tại Ngân hàng TMCP Q và số tài khoản 6030041970231 mở tại Ngân hàng TMCP S của chị T. Đến khoảng đầu tháng 10/2023, H thống nhất với chị T các khoản vay chưa trả hết lãi theo thoả thuận sẽ tính lãi đến ngày 01/10/2023 và yêu cầu chị T phải trả nợ. Đến ngày 10/11/2023, do chị T không trả tiền nên H nhờ bạn là anh Nguyễn Văn C3 đến gặp chị T giải quyết việc vay nợ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, anh C3 cùng anh Trần Văn T2 và anh Đoàn Văn C2 đến gặp chị T nhưng chị T yêu cầu phải có mặt Hường thì mới nói chuyện. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H gặp và nhờ anh C3 đến nhà chị T để đòi tiền, H sẽ đến sau. Sau đó, anh C3 đi cùng anh C2, anh Nguyễn Văn H1 và một nam thanh niên tên H2 (là bạn xã hội của anh C2, không rõ họ đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể) đến nhà ông Nguyễn Văn P ở thôn L (là anh họ của anh C3) ở sát cạnh nhà chị T. Trong lúc ngồi chơi ở nhà ông P, điện thoại di động của mình hết pin nên anh C3 để trên bản uống nước cắm sạc. Các anh C2, H1, H2 cũng để điện thoại của mình trên bàn, rồi cùng anh C3 đi bộ sang nhà chị T. Lúc này, chị T sang nhà ông P. Biết điện thoại của nhóm anh C3 để tại đây nên chị T bảo ông P là chị T cầm để giao cho Công an. Khi chị T về đến nhà đã đưa điện thoại của mình cho chồng là anh Vũ Văn K và bảo Công an đến thì giao cho Công an, rồi chị T gọi điện báo Công an huyện K. Nhóm của anh C3 thấy vậy đã yêu cầu chị T trả lại điện thoại. Lúc này, vợ chồng ông P sang nói chuyện thì chị T bảo anh K trả lại điện thoại cho nhóm anh C3. Khi nhóm anh C3 ra về đến cổng nhưng chị T vẫn chửi nên anh C2, anh H1 và H2 quay lại tiếp tục cãi chửi nhau với chị T. H2 dùng tay tát vào mặt, túm tóc chị T ghi xuống thì bị anh K đắm vào người. Sau đó, được can ngăn nên cả nhóm ra về. Sự việc xảy ra không ai bị thương tích, không có thiệt hại về tài sản.

Ngày 25/12/2023, chị T làm đơn tố giác hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Huyền H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K. Kết quả điều tra xác định từ ngày 20/3/2023 đến ngày 08/9/2023, H đã 11 lần cho chị T vay tiền, với tổng số tiền là 440.000.000 đồng là tiền riêng của H, trong đó có 02 lần (ngày 29/5/2023 và ngày 09/6/2023) với số tiền 150.000.000 đồng không tính lãi, chị T đã trả nợ gốc; còn lại 09 lần, tương ứng với 09 hợp đồng vay, với tổng số tiền 290.000.000 đồng, đều chưa trả nợ gốc, với mức lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần lãi suất cao nhất (20%/năm) theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định để thu lợi bất chính, cụ thể:

(1) Ngày 20/3/2023, H cho chị T vay 10.000.000 đồng, trả lãi sau. Tính đến ngày 01/10/2023, chị T sẽ phải trả cho H tiền lãi theo thoả thuận là 5.760.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 1.052.055 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.707.945 đồng. Chị T đã trả cho H 5.400.000 đồng tiền lãi, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 986.302 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 4.413.698 đồng.

(2) Ngày 15/5/2023, H cho chị T vay 40.000.000 đồng, trả lãi sau. Tính đến ngày 01/10/2023, chị T sẽ phải trả cho H tiền lãi theo thoả thuận là 16.440.000 đồng tiền lãi, trong đó: tiền lãi theo quy định là 3.002.740 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 13.437.260 đồng. Chị T đã trả cho H 14.400.000 đồng, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 2.630.137 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 11.769.863 đồng.

(3) Ngày 05/6/2023, H cho chị T vay 50.000.000 đồng, trả lãi trước. Chị T đã trả cho H 18.000.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 05/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 3.287.671 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 14.712.329 đồng.

(4) Ngày 22/6/2023, H cho chị T vay 60.000.000 đồng, trả lãi trước. Chị T đã trả cho H 21.600.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 22/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 3.945.205 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 17.654.795 đồng.

(5) Ngày 24/7/2023, H cho chị T vay 50.000.000 đồng, trả lãi trước. Chị T đã trả cho H 13.500.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 24/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 2.465.753 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 11.034.247 đồng.

(6) Ngày 05/8/2023, H cho chị T vay 30.000.000 đồng, trả lãi trước. Chị T đã trả cho H 5.040.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 01/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 920.548 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 4.119.452 đồng.

(7) Ngày 31/8/2023 H cho chị T vay 10.000.000 đồng, trả lãi trước. Chị T đã trả cho H 900.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 01/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 164.384 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 735.616 đồng.

(8) Ngày 05/9/2023, H cho chị T vay 30.000.000 đồng, trả lãi sau. Chị T đã trả cho H 2.340.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 01/10/2023, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 427.397 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 1.912.603 đồng.

(9) Ngày 08/9/2023, H cho chị T vay 10.000.000 đồng, trả lãi sau. Chị T đã trả cho H 720.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận tính đến ngày 01/10/2023, trong đó: tiền lãi theo quy định là 131.507 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 588.493 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi chị T phải trả cho H theo thoả thuận là 84.300.000 đồng, trong đó: tiền lãi được theo quy định là 15.397.260 đồng, số tiền H thu lợi bất chính là 68.902.740 đồng. Chị T đã trả cho H 81.900.000 đồng tiền lãi, trong đó: tiền lãi được thu theo quy định là 14.958.904 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 66.941.096 đồng và chưa trả 290.000.000 đồng tiền nợ gốc.

Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 16/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Huyền H về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huyền H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 201, các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, các khoản 1, 2, 3 Điều 36, các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo H từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 10% đến 15%.

Hình phạt bổ sung: đề nghị phạt tiền bị cáo số tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.958.904 đồng của bị cáo H. Buộc chi Quách Thị T phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 290.000.000 đồng.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Huyền H tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/3/2023 đến ngày 05/10/2023, tại xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Huyền H đã 09 lần cho chị Quách Thị T vay tổng số tiền là 290.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi H đã thu và sẽ thu là 84.300.000 đồng (gồm: tiền lãi đã thu là 81.900.000 đồng; tiền lãi chưa thu đến ngày 01/10/2023 là 2.400.000 đồng), trong đó tiền lãi được thu theo quy định (20%/năm) là 15.397.260 đồng (gồm: tiền lãi đã thu là 14.958.904 đồng; tiền lãi chưa thu là 438.356 đồng). Số tiền H thu lợi bất chính là 68.902.740 đồng (trong đó: đã thu 66.941.096 đồng, chưa thu 1.961.644 đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Để có căn cứ áp dụng hình phạt, HDXX cần đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn N là liệt sỹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.3]. Bị cáo H là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, hàng tháng khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo để sung quỹ Nhà nước cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành xác minh, làm việc với những người thường xuyên có giao dịch chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng với bị cáo H và ban hành Thông báo số 134B ngày 29/02/2024 gửi đến các xã, thị trấn trên địa bàn huyện K để tìm những người vay tiền của bị can H. Đến nay, ngoài chị T trong vụ án này, thì chưa có người nào khác trình báo về việc vay lãi của bị cáo H.

Hành vi cho vay lãi nhưng không thực hiện việc đăng ký ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự của Nguyễn Huyền H và hành vi đánh, cãi chửi nhau vào tối ngày 10/11/2023 tại nhà chị T của Nguyễn Văn H1, Đoàn Văn C2, thanh niên tên H2, Quách Thị T, Vũ Văn K không gây thương tích cho ai, không có thiệt hại về tài sản, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã chuyển đến Công an huyện K để lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Chị Quách Thị T có hành vi lấy điện thoại của nhóm anh C3 nhưng không có ý thức chiếm đoạt và các anh Nguyễn Văn C3, Trần Văn T2 đến nhà chị T nhưng không có hành vi vi phạm gì nên không đặt ra việc xử lý.

[6]. Về các biện pháp tư pháp:

[6.1]. Đối với số tiền gốc 290.000.000 đồng mà chị T vay của bị cáo H: Số tiền này được xác định là công cụ dùng vào việc phạm tội. Đến nay chị T chưa trả cho bị cáo H nên cần buộc chị T nộp lại số tiền trên vào ngân sách Nhà nước.

[6.2]. Đối với số tiền lãi 81.900.000 đồng mà bị cáo H đã thu của chị T gồm: số tiền lãi trong mức lãi suất theo quy định là: 14.958.904 đồng, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất theo quy định là: 66.941.096 đồng. Trong đó, số tiền lãi 14.958.904 đồng tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo H. Số tiền lãi 66.941.096 đồng, chị T tự nguyện cho H và không yêu cầu H phải trả lại nên không đặt ra việc giải quyết.

[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 201, các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 36, các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huyền H phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huyền H 21 (hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện K, tỉnh Hải Dương nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Huyền H cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo H số tiền 50.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

4. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.958.904 đồng của bị cáo H.

- Buộc chị Quách Thị T phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 290.000.000 đồng.

5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Huyền H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

109
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 60/2024/HS-ST

Số hiệu:60/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Thành - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về