Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 187/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 187/2023/HS-PT NGÀY 28/06/2023 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/HSPT ngày 05/05/2023 đối với bị cáo Hoàng Thị Th do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thành phố H.

Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Thị Th , sinh năm: 1981, tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H, Khu phố B, phường N, thành phố Đ, Thành phố H; nơi cư trú: Nhà không số, Hẻm 14, Khu phố 4, đường Làng Tăng Phú, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Đ, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Hoàng Thanh X , sinh năm 1948 và bà Vũ Thị T , sinh năm 1950; bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 05 anh chị em; chồng: Mai Anh K, sinh năm 1981 và có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/11/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Quốc Ph – Luật sư của Văn phòng Luật sư Quốc Ph thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2018, do cần tiền để mua sắm và dùng trong chi phí sinh hoạt gia đình nên chị Nguyễn Ngọc Th đã đến nhà của Hoàng Thị Th tại địa chỉ: Không số, Hẻm 14, đường Làng Tăng Phú, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Đ để hỏi vay tiền của Th . Th đồng ý cho T vay số tiền 40.000.000 đồng, với lãi suất vay là 10%/tháng. Sau khi nhận được tiền mặt từ Th , T đã trả lãi được 04 tháng (16.000.000 đồng) thì không còn khả năng thanh toán. Hai tháng tiếp theo, T không trả được tiền lãi nên cả hai thỏa thuận nhập số tiền gốc và tiền lãi thành 48.000.000 đồng để tính lãi tiếp theo. Tuy nhiên, sau đó T cũng không có khả năng trả nợ.

Ngày 18/12/2020, T cùng với Nguyễn Thị H (người quen biết của T và Th ) đến gặp Th xin giảm bớt tiền gốc và lãi. Th và T cùng xác nhận tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 18/12/2020 sau khi đã giảm còn lại là 115.000.000 đồng, Th đồng ý. Sau đó T trả trước cho Th 70.000.000 đồng, còn lại 45.000.000 đồng, T hẹn đến tháng 3/2021 sẽ trả hết cho Th .

Đến tháng 3/2021, T vẫn không trả được nợ cho Th nên khoảng 20 giờ ngày 03/5/2021, Th cùng chồng là Mai Anh K đến nhà T tại địa chỉ: 53/10 Đường 494, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Đ để đòi nợ và hai bên xảy ra mâu thuẫn. Th dùng tay tát vào mặt T rồi cùng chồng bỏ về. Sau khi sự việc xảy ra T đến Công an phường Tăng Nhơn Phú A trình báo và nguồn tin được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ để giải quyết theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã triệu tập Hoàng Thị Th , những người liên quan đến vụ việc trên về trụ sở làm việc, đồng thời tiến hành thu giữ những vật chứng có liên quan do Th và T giao nộp.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Hoàng Thị Th đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc Th xác định tiền lãi hai bên thỏa thuận là 12%/tháng. Trước thời điểm chốt nợ ngày 18/12/2020, T đã đóng cho Th 06 tháng, tương ứng 29.800.000 đồng. Ngoài ra, T khai còn có chị Nguyễn Ngọc Thanh là chị ruột của T cũng từng vay của Th 40.000.000 đồng vào tháng 3/2017 với lãi suất 12%/tháng.

Trên cơ sở tài liệu có trong hồ sơ đã xác định được số tiền mà Hoàng Thị Th đã thu lợi bất chính và nhằm thu lợi bất chính đối với khoản vay của Nguyễn Ngọc T , như sau:

- Từ tháng 4/2018 đến hết tháng 8/2018, Hoàng Thị Th cho Nguyễn Ngọc Th vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng (tương đương 120%/năm). Mỗi tháng T phải đóng tiền lãi cho Th là 4.000.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tiền lãi Th được hưởng tối đa trong 01 tháng là: 1.667% x 40.000.000 đồng = 666.800 đồng, nên tiền lãi Th được hưởng tối đa trong 04 tháng (từ tháng 4/2018 đến tháng 8/2018) là: 666.800 đồng x 4 tháng = 2.667.200 đồng.

Xét, số tiền Th thực nhận của T trong 04 tháng là: 16.000.000 đồng. Do đó, tiền Th đã thu lợi bất chính trong 04 tháng là: 16.000.000 đồng – 2.667.200 đồng = 13.332.800 đồng. (1) - Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2018, T không có khả năng đóng lãi 02 tháng tương đương số tiền 8.000.000 đồng. Do đó, Th cộng dồn tiền lãi trên vào tiền gốc nên tiền gốc đã cộng lãi là: 40.000.000 đồng + 8.000.000 đồng = 48.000.000 đồng.

Như vậy, tiền Th đã thu lợi bất chính trong 02 tháng (Tháng 9 và tháng 10 năm 2018 là): 8.000.000 đồng – (2 x 666.800 đồng) = 6.666.400 đồng. (2) - Th tiếp tục tính lãi tháng 11/2018, tháng 12/2018; 12 tháng của năm 2019 và 12 tháng của năm 2020, mỗi tháng là 10% trên số tiền gốc mới 48.000.000 đồng tương đương 4.800.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tiền lãi Th được hưởng tối đa trong 01 tháng là: 1.667% x 48.000.000 đồng = 800.160 đồng, nên tiền lãi Th được hưởng tối đa trong 26 tháng (từ tháng 11/2018 đến ngày 18/12/2020) là: 800.160 đồng x 26 tháng = 20.804.160 đồng.

Ngày 18/12/2020, T đã trả cho Th 70.000.000 đồng, nên số tiền lãi Th thu của T trong thời gian này là 70.000.000 đồng - 48.000.000 đồng = 22.000.000 đồng.

Do đó, số tiền Th đã thu lời bất chính từ T trong khoảng thời gian này là: 22.000.000 đồng – 20.804.160 đồng = 1.195.840 đồng. (3) - Tính đến ngày 18/12/2020, tiền lãi còn lại Th chưa thu được của T theo thoả thuận còn lại là 45.000.000 đồng. Đây là số tiền Th mong muốn thu của bà T (Hai bên đã ký giấy nợ). (4) Do đó, số tiền thu lợi bất chính bà Th đã thu lợi bất chính và nhằm thu lợi bất chính của bà T là: 13.332.800 đồng + 6.666.400 đồng + 1.195.840 đồng + 45.000.000 đồng = 66.195.040 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) tờ giấy ghi nội dung đã trả nợ số tiền 70.000.000 đồng, còn thiếu 45.000.000 đồng, ghi ngày 18/12/2020 trên giấy có chữ ký của Nguyễn Ngọc Th và Hoàng Thị Th (bản chính) do T giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Ngọc Th đề nghị xử lý đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2023/HSST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thành phố H:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35;

Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th : Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn còn giải quyết về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/3/2023, bị cáo Hoàng Thị Th có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H sau khi tóm tắt hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm mà bị cáo Hoàng Thị Th thực hiện đã nhận định:

Việc Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự là chính xác. Cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ, để xử phạt bị cáo 50.000.000 đồng là phù hợp; tại phiên toà bị cáo không xuất trình thêm các tình tiết nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Th , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Th khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt tiền cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo không sống bằng nghề cho vay, do chị T là chị em phía chồng có hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo Th giúp và bà chị T hứa trả tiền để bị cáo có tiền mua sữa cho con; bị cáo hiện tại có hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bị cáo giữ trẻ và chồng không có viện làm; do đó việc bị cáo bị tịch thu số tiền vốn, thêm phần phạt tiền thì bị cáo không có điều kiện để nộp phạt và đẩy bị cáo vào hoàn cảnh khó khăn; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt tiền cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm chấp hành án xong.

Bị cáo thống nhất lời bào chữa của luật sư, không bào chữa bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đ, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản thu giữ, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ tháng 4/2018 đến ngày 18/12/2020, tại Nhà không số, Hẻm 14, Khu phố 4, đường Làng Tăng Phú, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Đ, Hoàng Thị Th đã cho Nguyễn Ngọc Th vay 40.00.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng, vượt quá 05 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tổng số tiền Th đã thu lợi bất chính là 21.195.000 đồng và nhằm thu lợi bất chính là 45.000.000 đồng, tổng cộng là: 66.195.040 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi với tổng số tiền đã thu lợi bất chính và nhằm thu lợi bất chính là 66.195.040 đồng. Như vậy Toà án nhân dân thành phố Đ xét xử bị cáo Hoàng Thị Th tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hoàng Thị Th kháng cáo xin được giảm mức hình phạt chính là phạt tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th giữ nguyên nội dung kháng cáo. Kháng cáo của bị cáo Th làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ. Vì vậy, đã áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Th không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Th , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Thị Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Th ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 89/2023/HSST, ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thành phố H.

- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35;

Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

167
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 187/2023/HS-PT

Số hiệu:187/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về