Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 279/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 279/2023/HS-PT NGÀY 28/08/2023 VỀ TỘI CHIẾM GIỮ TRÁI PHÉP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 252/2023/HSPT ngày 19/7/2023 đối với bị cáo Bùi Đức P do có kháng cáo của bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hđối với Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bùi Đức P (tên gọi khác: Tý); giới tính: Nam; sinh ngày: 01/01/1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 17/10 Đường 1, B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 76 Đường 16, phường E, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức F và bà Hồ Thị G; có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 06/01/2023 (có mặt).

- Bị hại có kháng cáo:

Bà Huỳnh Thị Ngọc Nga, sinh năm: 1979 (có mặt).

Nơi cư trú: 1.3 Lô B, Chung cư cư xá Điện lực, Đường 1, phường Trường Thọ, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Bùi Đức P và Huỳnh Thị Ngọc H là vợ chồng và cùng sống chung với Huỳnh Ngọc Khánh I(là con riêng của chị Nga) tại địa chỉ 76 đường 16, khu phố 5, phường E, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 17 giờ ngày 03/8/2022, Bùi Thị Anh F(là bạn của Hà, tên thường gọi là Đặng Thị Kỳ G, đã chết ngày 06/9/2022) có đến nIIchơi và sau đó cả hai cùng ra ngoài chơi. Khi đi ra ngoài chơi thì Fđể quên chiếc điện thoại Iphone 12 Promax ở trên thùng nhựa cạnh tủ lạnh. Đến khoảng 18 giờ 46 phút cùng ngày, em trai của Itên Nguyễn Đại Bình nhắn tin vào điện thoại cho Inói có ai để quên điện thoại ở nhà. Lúc này, Bùi Đức P đi làm về nhìn thấy điện thoại của Fnhưng do nhầm tưởng điện thoại trên là của Ivà nghĩ tới việc Ivà P hay cãi nhau nên P nảy sinh ý định lấy giấu cho bõ ghét. Sau đó, P lấy quyển sổ để lên trên chiếc điện thoại rồi mang quyển sổ và điện thoại đi vào phòng của P, tắt chuông điện thoại. Sau đó, P lấy quyển sổ ra rồi lấy điện thoại để vào túi quần và đi tắm. Lúc này, Inói qua camera là cất điện thoại cho chị hai thì Bình tìm điện thoại của Fđể cất nhưng không tìm thấy nên chạy đến nItắm hỏi P có thấy điện thoại không thì P nói không có thấy. Sau khi tắm xong thì P tắt chuông điện thoại của Frồi mang ra xe ô tô đi đến nylông Bùi Thanh Hùng gửi điện thoại trên cho ông Hùng nhờ giữ giùm. Lúc này, Ikiểm tra lại camera thì thấy P lấy điện thoại của Thương, Fgọi điện hỏi P có lấy điện thoại thì P nói không lấy. Lúc này, P mới biết điện thoại này là của Fnhưng P sợ xấu hổ nên nói không có lấy. Sau đó, Ftrình báo Công an phường Linh Trung, quận D nhưng tại đây, P vẫn không thừa nhận lấy điện thoại của Thương. Hồ sơ vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tiếp nhận. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D, P thừa nhận hành vi chiếm giữ điện thoại của chị Thương. Sau đó, P gọi điện thoại cho ông Hùng nói mang điện thoại của P gửi hôm qua đưa cho bà Lê Thị Tuyết Lan là người trông con cho P để bà Lan trả lại điện thoại trên cho Thương.

Bản kết luận định giá tài sản số 285-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận D kết luận 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max 256GB, màu vàng trị giá 24.833.000 đồng.

Vụ thứ hai: Bị cáo Bùi Đức P và Huỳnh Thị Ngọc H là vợ chồng và có với nhau hai người con chung. Trong cuộc sống hôn nhân, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau do P ghen tuông, nghĩ chị Hngoại tình với người khác. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, P đang ngồi nhậu với IVăn Hào (tên gọi khác là Ken) tại quán ốc Hương Biển Xưa, địa chỉ nIkhông số, Đường 16, phường Linh Trung, quận D ngay gần nImình thuê ở. Khi đang nhậu thì P xem camera ở nIkết nối với điện thoại thì thấy chị Hvề nInên P chửi chị Hqua điện thoại kết nối với camera. Chị Hbực tức nên lấy xe mô tô đi đến nIngười quen xin ngủ nhờ. Khi chị Hvừa chạy ra khỏi nIvà đi ngang qua quán ốc Hương Biển Xưa thì P đi ra chặn xe lại để nói chuyện, hai người cãi qua cãi lại và P dùng tay phải tát một cái trúng vào má trái của chị Nga, chị Hcầm nón bảo hiểm chạy tới để đánh vào người P nhưng do P biết võ nên đỡ được. Trong lúc bực tức, P chụp được tay phải của chị Hdùng thế võ khóa tay chị Hbằng cách kẹp vào nách trái của P và dùng hai tay cầm cổ tay chị Nga, nâng tay chị Hlên rồi thả xuống làm gãy xương cánh tay phải của chị Nga. P nghe tiếng xương gãy nên thả tay ra và đưa chị Hđi bệnh viện nhưng chị Hkhông cho P đưa đi. Sau đó, chị Hnhờ chủ quán nhậu là anh Nguyễn Duy Phương đưa đến bệnh viện Hoàn Hảo cấp cứu và nhập viện mổ, bó bột và đến ngày 14/5/2022 chị Hxuất viện. Sau khi xuất viện, chị Hvà P tiếp tục cãi vã, thấy P không biết ăn năn mà tiếp tục có lời mắng chửi chị Hnên ngày 29/6/2022, chị Hđến Công an phường Linh Trung trình báo sự việc, yêu cầu giám định Ftích và xử lý hình sự đối với P.

Bản kết luận giám định pháp y về Ftích số 644/TgT.22 ngày 11/8/2022 của Trung Tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về Ftích của chị Huỳnh Thị Ngọc Hnhư sau: Chấn Fvùng cẳng tay phải gây gãy kín hai xương cẳng tay đã được điều trị mổ kết hợp xương. Tỉ lệ tổn Fcơ thể do Ftích gây nên hiện tại là: 16% (mười sáu phần trăm). Chấn Ftrên do vật tày tác động gây ra.

Ngày 22/11/2022, Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 644-GT/TgT.22 giải thích giám định kết luận như sau: Dựa trên bản ảnh thực nghiệm Cơ quan điều tra cung cấp thì hành vi dùng hai tay cầm vào cổ tay phải của người đối diện nâng lên rồi giật mạnh xuống có thể làm gãy kín hai xương cẳng tay phải như Kết luận giám định đã nêu.

Tại Cơ quan Điều tra, Bùi Đức P khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 176; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 155; khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật Thi hành án hình sự;

- Luật Thi hành án dân sự.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức P phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” và tội “Cố ý gây Ftích”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Đức P: 03 (ba) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Đức P: 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây Ftích”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.

Ngày 21/6/2023, bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hcó đơn kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt với bị cáo Bùi Đức P.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hgiữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt với bị cáo Bùi Đức P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh P biểu: Đơn kháng cáo của bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hlàm trong thời gian luật định là hợp lệ. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” và tội “Cố ý gây Ftích” và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu quy định tại điểm điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại trình bày đề nghị xem xét bị cáo nhắn tin đe dọa giết người đối với bị hại, yêu cầu này là không có cơ sở, nên không xem xét. Về tăng nặng mức hình phạt đối với bị cáo, do bị hại không bổ sung được tài liệu chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo Bùi Đức P và bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hkhông có ý kiến tranh luận và bị cáo có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị hại làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Đức P và bị hại Huỳnh Thị Ngọc Htại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Khoảng 17 giờ ngày 03/8/2022, Bùi Đức P đã có hành vi chiếm giữ một diện thoại Iphone 12 Promax có giá trị là 24.833.000 đồng, của bà Bùi Thị Anh F(đã chết ngày 06/9/2022) để quên trên thùng nhựa cạnh tủ lạnh nIHuỳnh Thị Ngọc Hà, mà không trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Bùi Thị Anh Thương.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, P đang ngồi nhậu với IVăn Hào tại quán ốc Hương Biển Xưa, gần nImình thuê ở, thì bà Hđi ngang qua, hai người xảy ra cãi vã xô xát, P dùng tay phải tát một cái trúng vào má trái của bà Nga, bà Hcầm nón bảo hiểm chạy tới để đánh vào người P nhưng do P biết võ nên đỡ được. Trong lúc bực tức, P chụp được tay phải của bà Hdùng thế võ khóa tay bà Hbằng cách kẹp vào nách trái của P và dùng hai tay cầm cổ tay bà Nga, nâng tay bà Hlên rồi thả xuống làm gãy xương cánh tay phải của bà Nga. Tỉ lệ tổn Fcơ thể do Ftích gây nên hiện tại là: 16% (mười sáu phần trăm). Chấn Ftrên do vật tày tác động gây ra.

Hành vi của bị cáo Bùi Đức P đã phạm vào tội tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” và tội “Cố ý gây Ftích” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 176 và Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân thành quận D xử phạt bị cáo Bùi Đức P theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tại phiên tòa bị hại Huỳnh Thị Ngọc Hkháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Bùi Đức P.

Hội đồng xét xử xét thấy, Bản án sơ thẩm số 205/2023/HSST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân quận D đã xét xử bị cáo Bùi Đức P về “Chiếm giữ trái phép tài sản” và tội “Cố ý gây Ftích” là đúng người, đúng tội và có áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

Bị hại kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Bùi Đức P nhưng không bổ sung được tình tiết mới để xem xét, nên Hội đồng xét xử không có có cở để chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật do không được chấp nhận kháng cáo.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Huỳnh Thị Ngọc Nga, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 205/2023/HSST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Đức P 03 (ba) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Đức P 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây Ftích”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023.

Bị hại Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 279/2023/HS-PT

Số hiệu:279/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về