TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 18/2022/DS-ST NGÀY 18/04/2022 VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 18 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 701/2020/TLST-DS, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất” theo Thông báo mở lại phiên tòa số 08/TB-TA, ngày 02 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2022/QĐST-DS, ngày 25 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1968 (có mặt).
2. Bị đơn: Huỳnh Thiện C, sinh năm 1964 (có mặt).
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp T, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thanh T - Chi nhánh Công ty L5 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Huỳnh Thị Ú, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
3.2. Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: tổ B, ấp Đ, xã M (KDC xã M), huyện C, Đồng Tháp.
3.3. Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1953 (vắng mặt).
3.4. Huỳnh Văn S, sinh năm 1971 (vắng mặt).
3.5. Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1976 (vắng mặt).
3.6. Huỳnh Thanh K, sinh năm 1978 (vắng mặt).
3.7. Huỳnh Thanh L1, sinh năm 1981 (vắng mặt).
3.8. Huỳnh Văn A1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
3.9. Võ Thị H1, sinh năm 1953 (vắng mặt).
3.10. Huỳnh Văn L2, sinh năm 1970 (vắng mặt).
3.11. Huỳnh Kim P (vắng mặt).
3.12. Huỳnh Kim L3, sinh năm 1973 (vắng mặt).
3.13. Huỳnh Thanh H2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp T, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện ngày 23/4/2020, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/7/2020 và 30/9/2020, tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị Thu H là nguyên đơn trình bày:
Ông Huỳnh Công Q (chết năm 1997) và bà Phạm Thị N (chết năm 2012). Ông Q và bà N có 07 người con gồm:
- Người con lớn nhất đã chết lúc còn nhỏ, không biết tên.
- Huỳnh Long H3, đã chết năm 1995, có hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ Nguyễn Thị Kim A và 05 người con Huỳnh Văn S, Huỳnh Thanh T1, Huỳnh Thanh K, Huỳnh Thanh L1, Huỳnh Văn A1.
- Huỳnh Long K1, đã chết năm 2012, có hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ Võ Thị H1 và 04 người con Huỳnh Văn L2, Huỳnh Kim P, Huỳnh Kim L3, Huỳnh Thanh H2.
- Huỳnh Ngọc L.
- Huỳnh Thị Ú.
- Huỳnh Thiện C.
- Huỳnh Thị Thu H.
Khi còn sống ông Q, bà N có tài sản gồm quyền sử dụng đất thuộc thửa số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và diện tích đất ruộng do ông bà nội cho. Sau đó, bà N đã bán diện tích đất ruộng để trang trải chi phí trong gia đình. Ông Q, bà N chết không để lại di chúc, tài sản để lại chỉ còn thửa đất số 103, hiện nay ông C đang sử dụng. Phần đất này ông C tự đi kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài thửa đất nói trên thì khi còn sống ông Q và bà N không còn tài sản nào khác. Bà H trình bày bà biết nội dung công văn của Ủy ban nhân dân huyện C xác định thửa đất 103 là cấp cho hộ, trong hộ có bà H. Tuy nhiên, bà H khẳng định đây là tài sản riêng của cha mẹ chứ không phải của hộ, bà H không có quyền trong thửa đất này.
Do đó, nay bà Huỳnh Thị Thu H yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất thuộc thửa số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Tại phiên tòa, bà H và ông C thỏa thuận được là bà H được nhận một phần đất để cất nhà có kích thước ngang 4m, dài 16m, diện tích 64,9m2, tương ứng trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa, ông Huỳnh Thiện C là bị đơn trình bày:
Ông Chí thống nhất lời trình bày của bà H về nguồn gốc đất, thời gian chết và hàng thừa kế của ông Q, bà N. Ông C xác định thửa đất số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp mà hiện nay hộ ông C đang đứng tên và sử dụng là di sản của cha mẹ là ông Q và bà N. Ông C chỉ đại diện kê khai, đăng ký theo quy định.
Ông Q và bà N chết không để lại di chúc, tài sản để lại là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 103. Ngoài thửa đất này thì ông Q và bà N không còn tài sản nào khác. Hiện nay, ông C đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thế chấp, cầm cố cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
Nay ông C đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất thuộc thửa số 103, theo đó, đồng ý để bà H được nhận một phần đất có kích thước ngang 4m, dài 16m, diện tích 64,9m2, tương ứng trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Trong quá trình sử dụng đất thì ông C có tiến hành san lấp ở vị trí hiện nay ông C đang cất nhà ở và vị trí giáp với phần đất của ông Nguyễn Hùng L4. Đối với phần san lấp này thì hiện nay ông C không xác định được giá trị san lấp đối với phần đất nói trên và cũng không nằm ở vị trí chia đất cho bà H nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với giá trị san lấp trong vụ án này.
Tại phiên hòa giải, bà Huỳnh Thị U và Huỳnh Ngọc L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất trình bày:
Bà Ú và bà L thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất và hàng thừa kế thứ nhất của ông Q, bà N. Khi còn sống ông Q, bà N có tài sản gồm quyền sử dụng đất thuộc thửa số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và diện tích đất ruộng do ông bà nội cho. Nhưng sau đó, bà N đã bán diện tích đất ruộng nói trên lấy tiền sử dụng. Ông Q, bà N chết không để lại di chúc, tài sản để lại là thửa số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp không chia cho các con phần đất nào, cũng không nói là sẽ để lại phần đất này cho ai. Thừa đất này hiện nay ông C đang quản lý, sử dụng và tự đi kê khai đăng ký đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứ trước đây ông Q, bà N chưa đăng ký kê khai đối với diện tích đất trên. Ngoài thửa đất nói trên thì khi còn sống ông Q và bà N không còn tài sản nào khác.
Nay bà H yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất do ông Q, bà N để lại và sau khi được Thẩm phán giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ, cũng như hậu quả của việc từ chối nhận di sản thừa kế, nhưng bà L và bà Ú vẫn xác định hiện nay 02 bà đã có nhà và sinh sống riêng và 02 bà từ chối nhận di sản do cha mẹ để lại là quyền sử dụng đất nói trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Huỳnh Thiện C trình bày:
Tại phiên tòa, giữa bà H và ông C đã thỏa thuận được về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất thuộc thửa số 103, theo đó, đồng ý để bà H được nhận một phần đất có kích thước ngang 4m, dài 16m, diện tích 64,9m2, tương ứng trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Sự thỏa thuận này là tự nguyện của đương sự, không trái quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đầy đủ và đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 612, 620, 651, 652 Bộ luật dân sự 2015, Điều 188 Luật đất đai 2013, Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự để công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng:
[1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có căn cứ xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về thừa kế quyền sử dụng đất, đất tranh chấp tọa lạc tại xã M, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại khoản 2, 5 và 9, Điều 26, điềm a khoản 1 Điều 35 và điểm c, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1, Điều 203 Luật đất đai 2013.
[2] Bà Huỳnh Thị Ú, bà Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Kim A, bà Võ Thị H1, anh Huỳnh Văn L2 và chị Huỳnh Kim P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt; anh Huỳnh Văn S, Huỳnh Thanh T1, Huỳnh Thanh K, Huỳnh Thanh L1, Huỳnh Văn A1, Huỳnh Kim L3, Huỳnh Thanh H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai nên nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa, bà H là nguyên đơn và ông C thống nhất được những nội dung như sau: Cha mẹ của bà H và ông C là ông Huỳnh Công Q (chết năm 1997) và bà Phạm Thị N (chết năm 2012). Ông Q và bà N có 07 người con chung gồm:
- Người con lớn nhất đã chết lúc còn nhỏ, không biết tên.
- Huỳnh Long H3, đã chết năm 1995, có hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ Nguyễn Thị Kim A và 05 người con Huỳnh Văn S, Huỳnh Thanh T1, Huỳnh Thanh K, Huỳnh Thanh L1, Huỳnh Văn A1.
- Huỳnh Long K1, đã chết năm 2012, có hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ Võ Thị H1 và 04 người con Huỳnh Văn L2, Huỳnh Kim P, Huỳnh Kim L3, Huỳnh Thanh H2.
- Huỳnh Ngọc L.
- Huỳnh Thị Ú.
- Huỳnh Thiện C.
- Huỳnh Thị Thu H.
[4] Như vậy, tại thời điểm mở thừa kế của ông Q, bà N thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: người thừa kế thế vị của ông Huỳnh Long H3; hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Long K1; bà L; bà Ú; ông C và bà H. Ngoài ra thì ông Q, bà N không còn con chung, con riêng hay người thừa kế nào khác.
[5] Ông Q và bà N chết không để lại di chúc. Bà H và ông C xác định di sản của ông Q và bà N là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thửa đất này được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ ông Huỳnh Thiện C vào ngày 18/3/2011, trong hộ gồm bà N, ông C và bà H. Tuy nhiên, cả bà H và ông C đều xác định thửa đất này là tài sản của ông Q và bà N, không phải là tài sản của hộ, đồng ý xác định đây là di sản để chia thừa kế.
[6] Quá trình giải quyết vụ án, bà L và bà Ú là người đồng thừa kế xác định từ chối nhận di sản thừa kế của ông Q và bà N là quyền sử dụng thửa đất nêu trên. Như vậy, trường hợp chia thừa kế theo quy định pháp luật thì sẽ chia 04 phần gồm người thừa kế thế vị của ông Huỳnh Long H3; hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Long K1; ông C và bà H. Căn cứ kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất 103 có diện tích là 304,6m2, trong đó có 100m2 đất ở tại nông thôn và 204,6m2 đất trồng cây lâu năm. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế sẽ có 25m2 đất ở tại nông thôn và 51,15m2 đất trồng cây lâu năm, tổng cộng là 76,15m2. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H và ông C thỏa thuận bà H chỉ nhận 01 nền nhà có kích thước ngang 4m, dài 16m, diện tích 64,9m2, trong đó có 25m2 đất ở tại nông thôn và 39,9m2 đất trồng cây lâu năm, tương ứng trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, là thấp hơn phần mà bà H được nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của bà H và ông C như trên là không trái luật và đạo đức xã hội nên căn cứ vào Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự để công nhận sự thỏa thuận của bà H và ông C.
[7] Trong vụ án còn có người thừa kế thế vị của ông Huỳnh Long H3; hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Long K1 và ông C trong hàng thừa kế. Tuy nhiên, chưa thể làm việc được với toàn bộ người thừa kế thế vị của ông Huỳnh Long H3 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Long K1 về việc có yêu cầu chia thừa kế không. Đối với ông C chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của bà H, không có yêu cầu chia thừa kế mà để tự thỏa thuận. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Ông C đang sử dụng thửa đất được tiếp tục sử dụng phần đất còn lại thuộc thửa 103, trường hợp những người có quyền yêu cầu chia thừa kế có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
[8] Trong quá trình sử dụng đất thì ông C có tiến hành san lấp ở vị trí hiện nay ông C đang cất nhà ở và vị trí giáp với phần đất của ông Nguyễn Hùng L4. Đối với phần san lấp này thì hiện nay ông C không xác định được giá trị san lấp đối với phần đất nói trên và cũng không nằm ở vị trí chia đất cho bà H, không yêu cầu giải quyết đối với giá trị san lấp trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[9] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của đương sự là có căn cứ chấp nhận như đã phân tích trên.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bà H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 11.091.000 đồng x 5% = 555.000 đồng.
[11] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà H tự nguyện nộp 2.685.000 đồng (đã nộp và chi xong).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 246 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 612, 620, 651, 652 Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 188, 203 Luật đất đai năm 2013;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
1. Công nhận sự thỏa thuận của bà Huỳnh Thị Thu H và ông Huỳnh Thiện C về việc bà Huỳnh Thị Thu H được sử dụng diện tích đất 64,9m2, trong đó có 25m2 đất ở tại nông thôn và 39,9m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 103, tờ bản đồ số 3, đất trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1, đất tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Tứ cận, vị trí, số đo của diện tích đất 64,9m2 được xác định trong phạm vi các mốc M1, M2, M10, M9, M8 về M1, cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp phần còn lại của thửa 103 nối từ mốc M10 đến mốc M9 có chiều dài 4,00m;
- Phía Nam giáp lộ nhựa nối từ mốc M8 đến mốc M1 có chiều dài 4,01m;
- Phía Tây giáp thửa 121 nối từ mốc M1, M2 đến mốc M10 có chiều dài tổng cộng 16m;
- Phía phần còn lại của thửa 103 nối từ mốc M9 đến mốc M8 có chiều dài 16,17m.
Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Huỳnh Thiện C có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất theo bản án đã tuyên.
Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 559983, số vào sổ CH 00422, ngày 18/3/2011, đã cấp cho hộ ông Huỳnh Thiện C đối với diện tích 64,9m2, trong đó có 25m2 đất ở tại nông thôn và 39,9m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa 103, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại cho bà Huỳnh Thị Thu H theo bản án đã tuyên.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chỉ nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C)
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu án phí là 555.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004131, ngày 30/9/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp. Như vậy, bà Huỳnh Thị Thu H còn phải nộp tiếp số tiền 255.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
4. Về chi phí tố tụng:
Bà Huỳnh Thị Thu H tự nguyện chịu số tiền 2.685.000 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng), bà H đã nộp và chi xong.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về thừa kế quyền sử dụng đất số 18/2022/DS-ST
| Số hiệu: | 18/2022/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 18/04/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về