TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 78/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/12/2024 VỀ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN
Ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 399/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Hồng N, sinh năm: 1994 (có mặt) Địa chỉ: Ấp Thạnh Đông, xã LT, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1988 (có mặt) Địa chỉ: Ấp 7, xã LH, huyện L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Hồng N trình bày: Bà N và ông Nguyễn Hoàng T ly hôn năm 2017. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 185/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện L, bà N nuôi con tên Nguyễn Hoàng Trâm A, sinh ngày 28/9/2015. Ông T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ. Đến năm 2019 ông T làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tại Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự số 84/2019/QĐST-DS ngày 07/3/2019 bà N để ông T nuôi cháu Trâm A. Ông T không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Nay bà N khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Trâm A từ ông Nguyễn Hoàng T sang bà N.
Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T trình bày: Tại đơn trình bày ngày 08/11/2024 và tại phiên tòa, ông T thống nhất toàn bộ nội dung ly hôn và nuôi con như bà N trình bày. Nay bà N xin thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Trâm A từ ông T sang bà N, ông T chỉ đồng ý cho cháu Trâm A ở với bà N nhưng ông T vẫn là người giám hộ, bà N muốn đưa cháu Trâm A đi đâu phải được sự đồng ý của ông T. Ông T không đồng ý giao con cho bà N vì trước đây bà N nuôi cháu Trâm A nhưng không đủ điều kiện nuôi con nên năm 2019 đã giao cho ông T nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, ông T chỉ đồng ý cho cháu Trâm A ở với bà N, ông T không đồng ý giao con cho bà N.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của bà Lê Hồng N. Giao con tên Nguyễn Hoàng Trâm A, sinh ngày 28/9/2015 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Hồng N có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện L giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn từ ông Nguyễn Hoàng T sang bà Lê Hồng N đối với cháu Nguyễn Hoàng Trâm A, sinh ngày 28/9/2015 nên vụ án được quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà N, ông T cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Hội đồng xét xử xét thấy theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 185/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2017 bà N nuôi con tên Nguyễn Hoàng Trâm A, sinh ngày 28/9/2015. Ông T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ. Đến năm 2019 ông T làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tại Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự số 84/2019/QĐST-DS ngày 07/3/2019 bà N để ông T nuôi cháu Trâm A. Ông T không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Nay cháu Nguyễn Hoàng Trâm A có nguyện vọng muốn sống với mẹ nên bà N xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn từ ông T sang bà N, nhưng ông T không đồng ý.
Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên” Cháu Trâm A, sinh ngày 28/9/2015 là trên 7 tuổi. Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2024 cháu Trâm A có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, cần giao cháu Trâm A cho bà N nuôi. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà N phải chịu số tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
Căn cứ:
QUYẾT ĐỊNH
- Khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà Lê Hồng N:
1. Thay đổi người trực tiếp nuôi con từ ông Nguyễn Hoàng T sang bà Lê Hồng N:
2. Giao con tên Nguyễn Hoàng Trâm A, sinh ngày 28/9/2015 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Bà N chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006652 ngày 15 tháng 10 năm 2024.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn số 78/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 78/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về