TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 66/2024/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm L, sinhânăm 1988; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Phước T, sinhânăm 1981; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 29/7/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L trình bày: Nguyên vào năm 2008, bà L và ông Trần Phước T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01, ngày 21/03/2008. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc và không thể chung sống với nhau được nữa. Do mâu thuẫn trầm trọng kéo dài nên ông, bà sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Trần Huy H, sinhângày 30/10/2008 và Trần Phát Đ, sinhângày 02/4/2014, hiện cháu Đ đang sống cùng với bà L và cháu H đang sống với ông T. Quá trình chung sống ông, bà không có tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị Cẩm L yêu cầu ly hôn với ông Trần Phước T; về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho cháu Đ; bà L giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi và bà L không cấp dưỡng cho cháu H; về tài sản chung, nợ chung không có nên bà L không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn ông Trần Phước T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống Đ hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T, nhưng ông T không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Trần Phước T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định Th cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng d n sự. Đối với bị đơn ông Trần Phước T chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng d n sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L; giao cháu tên Trần Phát Đ, sinhângày 02/4/2014 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi, ông T không cấp dưỡng cho cháu Đ. Đồng thời giao cháu tên Trần Huy H, sinhângày 30/10/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi, bà L không cấp dưỡng cho cháu H; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 29/7/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01, ngày 21/03/2008. Bà L yêu cầu xin được ly hôn với ông Trần Phước T, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Trần Phước T cấp dưỡng cho cháu Đ. Đồng thời bà L giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi và bà L không cấp dưỡng cho cháu H, về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Trần Phước T hiện đang cư trú tại Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn ông Trần Phước T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01, ngày 21/03/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung sống ông, bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cãi vã qua lại, mâu thuẫn kéo dài, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, luôn bất hòa. Ông T và bà L đã sống ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông T và bà L có gặp nhau nhưng không hàn gắn tình cảm được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông T và bà L đoàn tụ với nhau nhưng ông T vẫn vắng mặt và bà L vẫn kiên quyết ly hôn với ông T vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông T và bà L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đìnhânên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T.
[5] Về con chung: Bà Lê Thị Cẩm L xác định trong thời gian chung sống, bà L và ông T có 02 người con chung là Trần Huy H, sinhângày 30/10/2008 và Trần Phát Đ, sinhângày 02/4/2014, hiện cháu Đ đang sống chung với bà L và cháu H đang sống với ông T; bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi và giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi bà L và ông T không sống chung với nhau cho đến nay cháu Đ do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu H do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án cháu Đ có nguyện vọng sống chung với bà L và cháu H có nguyện vọng sống chung với ông T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Đ và cháu Hoàng, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu Đ cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T mà không ai được cản trở.
[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm L xác định trong thời gian chung sống bà L và ông Trần Phước T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Từ những ph n tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Lê Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Phước T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Cẩm L được ly hôn với ông Trần Phước T.
1.2. Về con chung: Giao cháu Trần Phát Đ, sinhângày 02/4/2014 cho bà Lê Thị Cẩm L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi; ông Trần Phước T không cấp dưỡng cho cháu Đ.
Giao cháu Trần Huy H, sinhângày 30/10/2008 cho ông Trần Phước T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi; bà Lê Thị Cẩm L không cấp dưỡng cho cháu H.
Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Lê Thị Cẩm L và ông Trần Phước T mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm L xác định trong thời gian chung sống bà L và ông Trần Phước T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006609 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Lê Thị Cẩm L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Phước T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống Đ hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con số 66/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 66/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 16/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về