Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con số 57/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 57/2023/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2023 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thùy L, sinh năm 2xxx; Địa chỉ: Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái; “ Vắng mặt - có đơn xin vắng mặt”.

- Bị đơn: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1yyy; Địa chỉ: Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái; “ Vắng mặt - không có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Trịnh Thùy L trong đơn khởi kiện và bản tự khai trình bày: Chị và anh Đinh Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N ghen tuông và đánh chị nhiều lần, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn đỉnh điểm là ngày 10-5-2023 anh N lại đe dọa đánh chị L nên chị L đã phải đưa con về nhà bố mẹ đẻ để ở, từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa. Chị Trịnh Thùy L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Trịnh Thùy L ly hôn anh Đinh Văn N.

- Về con chung: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N có 01 con chung là cháu Đinh Bảo L, sinh ngày 0x/0y/20mm. Ly hôn chị Trịnh Thùy L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Long và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 18/8/2023 bị đơn anh Đinh Văn N trình bày: Anh và chị Trịnh Thùy L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 25/11/2019 tại UBND xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N đi làm về mệt, chị L ở nhà không chịu làm ăn nên anh N có nói qua lại vài câu, sau đó chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Văn Tiên, xã TBL, huyện V để ở, từ đó đến nay chị L không quan tâm gì tới anh N nữa. Nay anh N xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị L xin ly hôn anh N không đồng ý.

- Về con chung: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N có 01 con chung là cháu Đinh Bảo L, sinh ngày 0x/0y/20mm. Nếu chị L cương quyết ly hôn anh Đinh Văn N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Long và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 18/8/2023 chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N vẫn giữ nguyên quan điểm như trong bản tự khai.

Tại biên bản xác minh ngày 18/8/2023 bà Nguyễn Thị Lý là mẹ đẻ của anh Đinh Văn N cho biết: Anh Đinh Văn N và chị Trịnh Thùy L có đăng ký kết hôn năm 2019 tại UBND xã TBL, huyện V. Sau khi kết hôn anh N, chị L về chung sống với vợ chồng bà Lý tại Thôn D, xã TBL, huyện V. Theo như bà Lý biết do anh N kể lại do vài lần chị Trịnh Thùy L ghen tuông vô cớ nên anh N không làm chủ được bản thân đã tát chị L, anh N chị L có mâu thuẫn gì nữa không thì bà không biết. Về con chung thì anh N, chị L có 01 con chung là cháu Đinh Bảo L, sinh ngày 0x/0y/20mm, hiện tại cháu Long đang ở cùng chị L ở nhà ông bà ngoại tại thôn Văn Tiên, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Tại biên bản xác minh ngày 18/8/2023 cán bộ công an xã TBL cho biết: Anh Đinh Văn N có hộ khẩu thường trú tại Thôn D, xã TBL, huyện V, không có đăng ký tạm trú ở nơi khác.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản và triệu tập công khai chứng cứ hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do đã vi phạm Điều 70,72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung vụ án: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N ghen tuông và đánh chị nhiều lần, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn đỉnh điểm là ngày 10-5-2023 anh N lại đe dọa đánh chị L nên chị L đã phải đưa con về nhà bố mẹ đẻ để ở, từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa. Chị Trịnh Thùy L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Trịnh Thùy L ly hôn anh Đinh Văn N.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thùy L với anh Đinh Văn N.

+ Về con chung: Giao cháu Đinh Bảo L, sinh ngày 0x/0y/20mm cho chị Trịnh Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đinh Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trịnh Thùy L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trịnh Thùy L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đinh Văn N có đăng ký hộ khẩu tại Thôn D, xã TBL, huyện V, tỉnh Yên Bái, vụ án do Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Đinh Văn N vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Trịnh Thùy L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TBL, huyện V. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N xác nhận phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng ghen tuông vô cớ, chị L không chịu khó làm ăn nên anh N có đánh chị L. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở từ tháng 5 năm 2023 vợ, chồng sống ly thân cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị L và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N có 01 con chung là cháu Đinh Bảo L, sinh ngày 0x/0y/20mm. Sau khi ly hôn chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N cùng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Bảo L. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng nuôi con của chị L và anh N là chính đáng, tuy nhiên để đảm bảo việc chăm lo, giáo dục con trẻ phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và con chưa thành niên, cháu Long mới hơn 05 tuổi và hiện đang ở do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, thu nhập của chị L từ trồng trọt, chăn nuôi khoảng 6.000.000 đồng/1 tháng, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao con chung Đinh Bảo L cho chị Trịnh Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tài sản và nợ chung: Chị Trịnh Thùy L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trịnh Thùy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thùy L được ly hôn anh Đinh Văn N.

2. Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thùy L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đinh Bảo L, sinh ngày 0x-0y-20mm, anh Đinh Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trịnh Thùy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003743 ngày 19/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái, chị Trịnh Thùy L đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị Trịnh Thùy L và anh Đinh Văn N được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự,người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

90
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con số 57/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:57/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Chấn - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về