Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 34/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 34/2024/HNGĐ-ST NGÀY 12/08/2024 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Trung H, sinh năm 1993.

Địa chỉ:  Ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Chị  Huỳnh Thị U, sinh năm 1996.

Địa chỉ:  Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 6 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Lê Trung H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào tháng 01 năm 2018, anh Lê Trung H và chị  Huỳnh Thị U tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại  Ủy ban nhân dân xã A,  huyện C theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh H và chị U chung sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh H và chị U sống ly thân tháng 12 năm 2018 cho đến nay.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh H và chị U có 01 người con chung tên  Lê Huỳnh Bảo D , sinh ngày 23/11/2018, hiện nay cháu D đang sống chung với chị U. Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống anh H và chị U không có tài sản chung.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống anh H và chị U không có nợ chung.

Nay anh H yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H yêu cầu được ly hôn với chị U.

- Về con chung: Anh H yêu cầu giao con chung tên Lê Huỳnh Bảo D , sinh ngày 23/11/2018 cho chị U nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh H không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị U không có tài sản chung, khong có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 99/TB- TLVA ngày 21 tháng 6 năm 2024, tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị  Huỳnh Thị U, nhưng chị U không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị U để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị U vắng mặt không có lý do, anh H có đơn yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của chị U trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau thời gian dài, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Anh H và chị U có 01 người con chung tên  Lê Huỳnh Bảo  D, sinh ngày 23/11/2018. Hiện nay cháu D đang sống chung với chị U và đang do chị U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H yêu cầu Tòa án giao cháu D cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, trong quá trình giải quyết vụ án chị U không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh H.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Anh H có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Trung H; địa chỉ  ấp V, xã A , huyện C tỉnh Sóc Trăng và chị Huỳnh Thị U; địa chỉ  ấp A , xã A , huyện C tỉnh Sóc Trăng. Anh H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị  Huỳnh Thị U và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Anh H đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho anh H nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và anh H đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của anh Lê Trung H là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn chị  Huỳnh Thị U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị  HuỳnhThị U.

[2] Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Trung H, sinh năm 1993 và chị  Huỳnh  Thị U, sinh năm 1996 tự nguyện đăng ký kết hôn và được  Ủy ban nhân dân xã A,  huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 06 tháng 02 năm 2018 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Trung H và chị  Huỳnh Thị U là hợp pháp.

[4] Xét lý do xin ly hôn của anh Lê Trung H, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh H và chị U hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 12 năm 2018, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hạnh phúc, anh H và chị U không còn sống chung từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Anh H và chị U đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh H và chị U trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

[5] Về con chung: Anh H và chị U có 01 con chung tên  Lê Huỳnh Bảo D, sinh ngày 23/11/2018. Hiện nay, cháu D đang sống chung với chị Ú và đang do chị U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H yêu cầu Tòa án giao cháu D cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu D cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, chị U không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Căn cứ vào khoản 1 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, anh Lê Trung H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị U.

[8] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Anh Lê Trung H là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, anh Lê Trung H phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Trung H và chị  Huỳnh Thị U ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Huỳnh Bảo D , sinh ngày 23/11/2018 cho chị  Huỳnh Thị U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Lê Trung H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị U. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, chị U không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Anh Lê Trung H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004438 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, anh Lê Trung H đã nộp xong án phí.

6. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 34/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:34/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về