Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 03/2023/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 03/2023/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2023 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 27/4/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXX - ST ngày 12/ 4/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tẩn Lở M, sinh năm 1977 Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Dao Trú tại: Thôn Trung C, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Tẩn Lở M: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Bị đơn: Anh Phồng Sin N, sinh năm 1976 Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Dao Trú tại: Thôn Trung C, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Tẩn Lở M trình bày:

Chị và anh Phồng Sin N chung sống như vợ chồng từ năm 1993 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh N không hợp nhau, anh N không tu trí làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình, đã nhiều lần chị khuyên nhủ nhưng anh N không thay đổi, không những thế anh N còn thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị. Hiện nay chị và anh N tuy sống chung một nhà nhưng đã ly thân từ năm 2012 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn giữa chị và anh N đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phồng Sin N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Phồng Sin N có 02 con chung là cháu Phồng L T, sinh ngày 20/01/1999 và cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013. Cháu Phồng L đã đủ tuổi trường thành, tự chăm sóc bản thân, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Phồng Sử M chị sẽ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị và anh Phồng Sin N không vay nợ ai và cũng không cho ai nợ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Tẩn Lở M trình bày:

Chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N chung sống như vợ chồng từ năm 1993 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị M và anh N không hợp nhau, anh N thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị. Chị M và anh N đã ly thân từ năm 2012, đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn giữa chị và anh N đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị Tẩn Lở M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phồng Sin N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N có 02 con chung là cháu Phồng L T, sinh ngày 20/01/1999 và cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013. Cháu Phồng L đã đủ tuổi trường thành, tự chăm sóc bản thân, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Phồng Sử M chị sẽ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị Tẩn Lở M, anh Phồng Sin N tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị M và anh N không vay nợ ai và cũng không cho ai nợ.

Tại các biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Phùng Sin N trình bày:

Về thời gian, địa điểm, quá trình chung sống vợ chồng và con chung đúng như chị Tẩn Lở M trình bày. Anh và chị Tẩn Lở M chung sống như vợ chồng từ năm 1993 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Muân thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Nay chị M làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị Tẩn Lở M có 02 con chung là cháu Phồng L T, sinh ngày 20/01/1999 và cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013. Cháu Phồng L đã đủ tuổi trường thành, tự chăm sóc bản thân, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Phồng Sử M chị Tẩn Lở M sẽ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Vợ chồng anh tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh và chị Tẩn Lở M không cho ai vay và cũng không vay nợ của ai.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã đảm bảo đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 14, điều 15; khoản 2 Điều 53 và các Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 1916 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013 cho chị Tẩn Lở M là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Phồng Sin N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Tẩn Lở M thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N đều cư trú tại thôn Trung C, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Tại phiên tòa chị Tẩn Lở M, anh Phồng Sin N có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tẩn Lở M, anh Phồng Sin N.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993, quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian đã phát sinh mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân nhau từ năm 2012. Nay chị M, anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Xét thấy thời điểm chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay thì hai người đã đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 của luật hôn nhân gia đình năm 2014 nhưng cho đến nay chị M và anh N cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Lở M, không công nhận chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị M và anh N đều xác nhận có hai con chung là cháu Phồng L T, sinh ngày 20/01/1999 và cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013. Cháu Phồng L đã đủ tuổi trường thành, tự chăm sóc bản thân, nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp, còn cháu Phồng Sử M còn nhỏ đang sống phụ thuộc vào bố mẹ nên khi ly hôn, chị Tẩn Lở M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mt đến khi cháu đủ 18 tuổi, bản thân cháu Phồng Sử M khi được Toà án lấy ý kiến thì muốn ở với mẹ.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tẩn Lở M không yêu cầu anh Phồng Sin N cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Vì vậy Toà án không giải quyết.

[4]Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí: Chị Tẩn Lở M thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 1916 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 14, 15; khoản 2 Điều 53, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Tẩn Lở M và anh Phồng Sin N là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Phồng Sử M, sinh ngày 11/12/2013 cho chị Tẩn Lở M là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Phồng Sử M đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) Về cấp dưỡng: anh Phồng Sin N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Tẩn Lở M thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

54
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 03/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:03/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bát Xát - Lào Cai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về