Bản án về ly hôn và tranh chấp con chung khi ly hôn số 211/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 211/2022/HNGĐ-ST NGÀY 22/09/2022 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn và con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 196/2022/QĐST-HGNĐ, ngày 15 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N; ĐKHTTT: Xóm N, xã Phù N, huyện T, thành phố H; nơi cư trú: Thôn 8, xã H, huyện T, thành phố H; vắng mặt (Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn L; ĐKHTTT: Xóm N, xã Phù N, huyện T, thành phố H; nơi cư trú: Thôn 4, xã N, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố H vào năm 1998. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh L còn thường xuyên chửi bới, đánh vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên chị N đã đưa các con về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 02 năm 2022. Thực tế hai bên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay chị Bùi Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ với nhau được nữa chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn L.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh L có 02 con chung tên Phạm Thị Thu T, sinh ngày 14/10/1998, đã trưởng thành, có gia đình riêng và Phạm Đức D, sinh ngày 08/10/2007. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc khi ly hôn nguyện vọng của chị là được tiếp tục nuôi con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh L tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản gửi đến Tòa án ghi ý kiến trình bày quan điểm về việc chị Bùi Thị N xin ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Bùi Thị N và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Phạm Văn L; Về con chung:

Giao con chung tên Phạm Đức D, sinh ngày 08/10/2007 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên kiểm sát viên không đề cập giải quyết; về tài sản chung: Chị Bùi Thị N không yêu cầu, bị đơn anh Phạm Văn L vắng mặt không có ý kiến trình bày về tài sản chung nên không đề cập giải quyết; đối với con chung Phạm Thị Thu T, sinh ngày 14/10/1998, đã trưởng thành trên 18 tuổi, có gia đình riêng, nên không giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng Nguyên đơn chị Bùi Thị N vắng mặt, song có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Văn L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07 tháng 12 năm 1998 là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thể hiện: Chị N và anh L chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc đến nay thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình. Do mâu thuẫn căng thẳng nên hai bên đã sống ly thân nhau và không còn quan tâm nhau. Nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L, bị đơn anh L quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L vắng mặt và cũng không có văn bản nào gửi đến Tòa án trình bày quan điểm về việc chị N xin ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh L đã kéo dài, trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Phạm Văn L.

[3] Về con chung Chị N và anh L có 02 con chung tên Phạm Thị Thu T, sinh ngày 14/10/1998, đã trưởng thành, có gia đình riêng và Phạm Đức D, sinh ngày 08/10/2007. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc khi ly hôn nguyện vọng của chị N là được tiếp tục nuôi con chung. Bị đơn anh Phạm Văn L vắng mặt tại phiên tòa không có quan điểm trình bày về việc nuôi con chung gửi đến Tòa án. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay con chung còn nhỏ, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, cần thiết phải giao con chung cho một người nuôi dưỡng, chăm sóc, việc nuôi con chung của chị N đã ổn định, mặt khác con chung trên 07 tuổi có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Phạm Đức D cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Đối với con chung Phạm Thị Thu T, sinh ngày 14/10/1998, đã trưởng thành trên 18 tuổi, có gia đình riêng, nên không giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N trình bày để chị và anh L tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung Chị N trình bày vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Phạm Văn L vắng mặt tại phiên tòa không có quan điểm trình bày về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Phạm Văn L.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Đức D, sinh ngày 08/10/2007, cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008002, ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành phố H.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và tranh chấp con chung khi ly hôn số 211/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:211/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về