Bản án về ly hôn và tranh chấp con chung khi ly hôn số 198/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 198/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2024 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 246/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T; nơi cư trú: Thôn 5, xã C, huyện T, thành phố H.

Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vi Văn T; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện T, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T trình bày:

Chị và anh Vi Văn T kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố H vào ngày 30 tháng 3 năm 2021. Sau khi cưới, chị T về chung sống cùng anh T tại thôn P, xã L, huyện T, H. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, kinh tế chung gia đình khó khăn và không có sự cố gắng phát triển, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị T đề nghị được ly hôn anh Vi Văn T.

Về con chung: Chị và anh Vi Văn T có 01 con chung tên Vi Ngọc Huyền A, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2021. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đề nghị tự thỏa thuận với anh T về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh Vi Văn T không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 16/8/2024, bị đơn là anh Vi Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T thống nhất với trình bày chị Hoàng Thị T về thời gian, điều kiện kết hôn và thời điểm phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T là do nảy sinh những việc riêng trong đời sống sinh hoạt dẫn đến vợ chồng không còn hòa thuận và không thể chung sống cùng nhau. Do mâu thuẫn, chị T đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay, chị T có đơn xin được ly hôn, quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị Hoàng Thị T có 01 con chung tên Vi Ngọc Huyền A sinh ngày 24 tháng 7 năm 2021. Khi ly hôn, anh T đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con. Ngoài ra, anh T đề nghị trường hợp chị T không đủ khả năng nuôi con, không có thời gian chăm sóc con thì anh T mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Anh và chị Hoàng Thị T không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra T báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn cơ bản chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Hoàng Thị T và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Vi Văn T; Về con chung: Giao con chung tên Vi Ngọc Huyền A, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên kiểm sát viên không đề cập giải quyết; Về tài sản chung: Chị T và anh T đều thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không đề cập giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết Chị Hoàng Thị T có đơn xin ly hôn với anh Vi Văn T. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Vi Văn T hiện đang cư trú tại thôn P, xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự Nguyên đơn là chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Vi Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Vi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18, ngày 30 tháng 3 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại địa phương thống nhất thể hiện, đời sống chung của chị T và anh T đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và trong làm ăn kinh tế dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột. Gia đình đã động viên hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn, chị T và anh T đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Chị T giữ nguyên đề nghị được ly hôn với anh Vi Văn T; anh T có lời trình bày xác định vợ chồng không thể chung sống cùng nhau nên đồng ý ly hôn với chị T. Từ đây xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị T và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Vi Văn T.

[4] Về con chung Chị Hoàng Thị T và anh Vi Văn T có một con chung tên Vi Ngọc Huyền Anh, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2021. Khi ly hôn, chị T có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy: Kể từ khi chị T và anh T sống ly thân, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; việc nuôi con chung của chị T đã ổn định. Con chung là con gái và còn nhỏ, nên cần nhiều sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, anh T có lời khai đồng ý để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T đề nghị để chị và anh T tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[5] Về tài sản chung Chị Hoàng Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Vi Văn T vắng mặt tại phiên tòa song cũng có quan điểm trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Vi Văn T.

2. Về con chung:

Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Vi Ngọc Huyền Anh, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2021, đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0010047 ngày 07/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí.

6.Về quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị T, anh Vi Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và tranh chấp con chung khi ly hôn số 198/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:198/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về