Bản án về ly hôn và nuôi con số 101/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 101/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2024 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 222/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 138/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/01/1987 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã N.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 23/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 26/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hoà hợp, thường xuyên cự cải nhau, từ đó vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Phúc K, sinh ngày 24/01/2014 , hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị T.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị yêu cầu nuôi con tên Nguyễn Phúc K, sinh ngày 24/01/2014, không yêu cầu anh H cấp dưỡng muôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xử cho chị chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.

Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xử giao cháu Nguyễn Phúc K, sinh ngày 24/01/2014 (theo nguyện vọng của cháu K) cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng muôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Nguyễn Văn H được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn H.

[3] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 2012 và có đăng ký kết hôn ngày 26/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của chị T và anh H là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay, trong thời gian vợ chồng ly thân anh chị và gia định cũng không tự hoà giải với nhau được.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có 01 người con tên Nguyễn Phúc K, sinh ngày 24/01/2014, khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị T là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu, cuộc sống của cháu hiện nay cũng ổn định, đồng thời cũng theo nguyện vọng của cháu K và bản thân chị T cũng có điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, xử giao cháu Nguyễn Phúc K cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, diểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H ly hôn.

2.Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Phúc K, sinh ngày 24/01/2014 (theo nguyện vọng của cháu K) cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng muôi con.

Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị T và anh H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T thừa phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0003263 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị T biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/8//2024). Đối với anh H vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

93
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn và nuôi con số 101/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:101/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Biên - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về