Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 98/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 98/2024/HN-ST NGÀY 28/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 833/2023/TLST-HN ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1981, cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số F - H đường L, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Châu K, sinh năm 1981, cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 10/8/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày:

Bà và ông K quen biết, tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 07/7/2008. Thời gian chung sống được 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cự cãi do ông K không lo làm ăn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông K.

- Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012, hiện hai cháu đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/02/2024, ông Phạm Châu K trình bày:

Ông và bà V có đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 07/7/2008, vợ chồng chung sống từ năm 2008. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không lớn. Nay bà V yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý.

- Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012, hiện hai cháu đang sống với bà V. Khi ly hôn, ông đồng ý để hai con chung cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, bà V không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con chung nên ông không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông K thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà V và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông, không khiếu nại gì về sau.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K. về con chung, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012. Về tài sản chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết và xác định không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân, bà V và ông K đăng ký kết hôn vào ngày ngày 07/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang, chung sống với nhau được khoảng 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy, ông K có ý kiến đồng Ý ly hôn theo yêu cầu của bà V. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà V và ông K đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà V yêu cầu ly hôn với Ông K là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012, hiện hai cháu đang sống với bà V. Để đảm bảo cuộc sống cho cháu N và cháu V1 cần tiếp tục giao hai cháu cho bà V được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề để xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông K1. Về quan hệ con chung: giao 02 con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Thu V có đơn yêu cầu ly hôn với ông Phạm Châu K, ông K cư trú tại ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Ông Phạm Châu K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà V và ông K tự nguyện kết hôn vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông K là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà V xác định quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi do ông K không lo làm ăn. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/02/2024, ông K xác định quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn và ông cũng đồng ý theo yêu cầu ly hôn của bà V. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà V và ông K thường xuyên cãi vã, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà V, ông K là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về quan hệ con chung: bà V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012, hiện hai cháu đang sống với bà V. Xét thấy, con chung đang được bà V chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định và ông K cũng có ý kiến đồng ý giao hai con chung cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu N và cháu V1 cho bà V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà V không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà V không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[2.5] Về án phí sơ thẩm: bà V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 144, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thu V được ly hôn với ông Phạm Châu K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 07/7/2008 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Phạm Châu K và bà Nguyễn Thị Thu V không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Bà Nguyễn Thị Thu V được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Khánh N, sinh ngày 05/12/2008 và Phạm Nguyễn Khánh V1, sinh ngày 26/4/2012. Ông Phạm Châu K không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn Thị Thu V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Châu K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhung được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014760 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 12 năm 2023.

Ông Phạm Châu K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Thu V có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Phạm Châu K được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

86
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 98/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:98/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về