Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 95/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 95/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 550/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 110/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981, nơi cư trú: Nhà T, đường N, Tổ B, Khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Nhà T, đường N, Tổ B, Khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện để ngày 24/5/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Mạnh H tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (GCNKH số 17 ngày 03/4/2000). Quá trình chung sống, giữa bà N và ông H đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục. Bà N nhận thấy những mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Mạnh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 01/01/1997 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 09/7/2006. Do cả 02 con chung đều đã thành niên nên bà N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh H: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp công khai tài liệu chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện ông Nguyễn Mạnh H yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn”. Bị đơn ông Nguyễn Mạnh H có nơi cư trú tại phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Mạnh H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Mạnh H chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà N và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có sự yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà N. Ngoài ra, theo Biên bản xác minh tại nơi cư trú của các đương sự thể hiện bà N và ông H trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, địa phương đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Nhận thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc bà N và ông H là vợ chồng nhưng không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình như vậy đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc trường hợp hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Mạnh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 01/01/1997 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 09/7/2006. Do cả 02 con chung đều đã thành niên nên Toà án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh H về việc “Ly hôn”.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh H.

- Về con chung: Do con chung đã thành niên nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị N không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003298 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 95/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:95/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bến Cát - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về