TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
BẢN ÁN 93/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng C, sinh năm 1983 – Xin vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Phạm Thành T, sinh năm 1981 - Xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp P H, xã P C, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Võ Thị Hồng C trình bày:
Chị và anh T chung sống với nhau từ năm 2019, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P C, huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại ấp P H, xã P C, huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Từ khi chung sống, chị C và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không phù hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên gây gỗ nhau, không thể hiểu và thông cảm cho nhau. Từ đó cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề nên chị về nhà mẹ ruột chị sống và vợ chồng tự ly thân từ tháng 7-2023 đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh T không ai đặt vấn đề đoàn tụ.
Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 một con chung tên Phạm Hoàng Kim L, sinh ngày 30-9-2021 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Thành T trình bày:
Lời trình bày của anh T và chị C về thời gian chung sống, thời gian ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung thống nhất nhau. Nay anh cũng đồng ý ly hôn với chị C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 một con chung tên Phạm Hoàng Kim L, sinh ngày 30-9-2021 hiện đang sống chung với chị C. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Hồng C yêu cầu được ly hôn anh Phạm Thành T.
Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Kim L, sinh ngày 30-9-2021 cho chị Võ Thị Hồng C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị Hồng C và bị đơn anh Phạm Thành T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P C, huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 7-2023 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nay chị C yêu cầu ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn, nhưng cả chị C và anh T đều xin vắng mặt, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa, chứng tỏ chị C và anh T đều không có thiện chí hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị C và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng Kim L, sinh ngày 30-9-2021. Cháu L hiện đang sống với chị C từ khi chị C và anh T ly thân. Nay chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, anh T cũng đồng ý giao cháu L cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử giao cháu L cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[5] Như phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án.
[6] Án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;
điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hồng C về việc yêu cầu ly hôn anh Phạm Thành T.
Chị Võ Thị Hồng C được ly hôn anh Phạm Thành T.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Kim L, sinh ngày 30-9-2021 cho chị Võ Thị Hồng C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Võ Thị Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014755 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho chị C, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 93/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 93/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Trảng Bàng - Tây Ninh |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 20/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về