Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 84/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 84/2024/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 208/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lưu Chí H, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Mỹ T, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 07/8/2024 ông Lưu Chí H trình bày:

Vào năm 2014, ông và bà T kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 05/10/2018. Sau khi kết hôn, ông và bà T sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn vì bà T không quan tâm, chăm sóc gia đình, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay ông H yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị Mỹ T.

Trong quá trình chung sống, ông và bà T có hai người con tên là Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017, hiện nay đang sinh sống với ông H nên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị Mỹ T không có văn bản phúc đáp đối với yêu cầu của ông Lưu Chí H.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Mỹ T.

+ Về con chung: Giao con chung tên Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng và bà T không cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 do ông H không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lưu Chí H xác định trong thời gian chung sống ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị Mỹ T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Phan Thị Mỹ T. Bên cạnh đó, ông Lưu Chí H vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lưu Chí H.

[2] Về hôn nhân: Ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T có đăng ký kết hôn vào ngày 05/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T là hợp pháp.

Ông Lưu Chí H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với bà Phan Thị Mỹ T. Xét yêu cầu của ông Lưu Chí H Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý cho bà Phan Thị Mỹ T và giữa ông Lưu Chí H, bà Phan Thị Mỹ T từ khi sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh của Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Lưu Chí H được ly hôn với bà Phan Thị Mỹ T.

[3] Về con chung: Ông Lưu Chí H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017. Xét thấy, hiện nay cháu V, cháu D đang sống với ông H và để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu và cũng theo nguyện vọng của cháu V, cháu D. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 là có căn cứ.

Bà Phan Thị Mỹ T có quyền thăm nom cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 không ai được cản trở theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Lưu Chí H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Phan Thị Mỹ T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 theo Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lưu Chí H không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống ông Lưu Chí H cho rằng trong thời gian chung sống ông và bà Phan Thị Mỹ T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông Lưu Chí H cho rằng ông và bà Phan Thị Mỹ T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Ông Lưu Chí H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xứ:

1. Về hôn nhân: Ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T được ly hôn.

2. Về con chung: Ông Lưu Chí H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017.

Bà Phan Thị Mỹ T có quyền thăm nom cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017 không ai được cản trở. Ông Lưu Chí H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Phan Thị Mỹ T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lưu Thị Khánh V, sinh ngày 02/12/2015 và Lưu Văn D, sinh ngày 03/02/2017.

3. Về tài sản chung: Ông Lưu Chí H xác định trong thời gian chung sống ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Ông Lưu Chí H xác định trong thời gian chung sống ông Lưu Chí H và bà Phan Thị Mỹ T không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lưu Chí H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005725 ngày 16/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Lưu Chí H nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phan Thị Mỹ T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 84/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:84/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Tú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về