Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 80/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 80/2024/HNGĐ-ST NGÀY 06/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tào Kim Ngọc T; Cư trú tại: Ấp Trà L, xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Thạch Văn Đ; Cư trú tại: Ấp Bắc D, xã Phú M, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tào Kim Ngọc T và anh Thạch Văn Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2008 và đăng ký kết hôn ngày 07/7/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng thời gian về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh chị không còn chung sống từ năm 2016 cho đến nay.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 03 (Ba) người con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015, hiện tại các con đang sống với chị T.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Tào Kim Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tào Kim Ngọc T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Thạch Văn Đ.

- Về con chung: Chị Tào Kim Ngọc T yêu cầu Toà án giải quyết giao 03 (Ba) con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Thạch Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn 02 (Hai) lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được và Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T và anh Đ chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian về sau thì phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2016 anh chị không còn chung sống cho đến nay; Về con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015, hiện tại 03 con đang sống chung với chị T, tiếp tục giao con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Tòa án triệu tập hợp lệ nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Tào Kim Ngọc T.

- Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Thạch Văn Đ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Thạch Văn Đ vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Thạch Văn Đ.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại ấp Bắc D, xã Phú M, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Tào Kim Ngọc T và anh Thạch Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận H, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 84 ngày 07 tháng 7 năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ.

[4] Xét lý do xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn chị T và anh Đ chung sống với nhau có 03 (Ba) người con chung. Tuy nhiên, chị T và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mỗi người sống một nơi, không quan tâm, chăm sóc cho nhau, anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập chị T và anh Đ để hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ không có mặt để Tòa án hòa giải đoàn tụ, anh Đ cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, cho thấy anh Đ không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh Đ cũng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh Đ có 03 (Ba) người con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015, hiện tại đang sống chung với chị T. Xét thấy, từ khi 03 cháu sinh ra, 03 cháu sống chung với chị T, chị T chăm sóc nuôi dưỡng, nên về mặt tình cảm thì 03 cháu gắn bó và yêu mến chị T nhiều hơn anh Đ, Tòa án có ghi ý kiến 03 cháu, 03 cháu có nguyện vọng sống chung với chị T, điều kiện chăm sóc của chị T thuận lợi hơn anh Đ, nhằm ổn định cuộc sống cho 03 cháu về mặt vật chất cũng như tinh thần. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử Quyết định tiếp tục giao con chung Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17/10/2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30/9/2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05/9/2015 cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi 03 con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi.

[6] Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[9] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về an phi: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T là người có đơn xin ly hôn, chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tào Kim Ngọc T và Thạch Văn Đ.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Thạch Thị Bé T, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2009, Thạch Minh L, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2012 và Thạch Minh L, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2015 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi 03 (Ba) con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tào Kim Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005704 ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trinh tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 80/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:80/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Tú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về