Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 71/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 71/2022/HNGĐ-ST NGÀY 05/05/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXX-ST ngày 28/3/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: /2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2022; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc Th, sinh năm 1999;

Địa chỉ: Thôn Ph, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn:Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1998;

Địa chỉ: Khối phố L, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

(Chị Th có mặt còn anh H vắngmặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 29/11/20212, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là chị Trần Thị Ngọc Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh H kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Minh H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh Ch, sinh ngày 15/12/2016. Trong đơn khởi kiện, chị Th có nguyện vọng giao con cho anh H nuôi dưỡng Sau khi ly hôn, chị Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, chị Th đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Minh H cố tình trốn tránh, không có văn bản trả lời ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên hòa giải và phiên họp công khai chứng cứ mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Do anh H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể t khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không nộp bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều đó chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm. Do bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Minh H là có căn cứ. Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân của chị Th và anh H là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn.Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh H chị Th không còn chung sống nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị Th được ly hôn với anh H vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị Th trình bày. Đề nghị HĐXX giao con chung tên Nguyễn Ngọc Minh Ch, sinh ngày 15/12/2016 cho chị Th nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Minh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo qui định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc Th và anh Nguyễn Minh H kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nên quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh H là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau. Qua xác minh tại địa phương thì vợ chồng chị Th không còn chung sống t tháng 9 năm 2020. Anh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không không có ý kiến phản hồi về quan hệ hôn nhân, không thể hiện nguyện vọng muốn hàn gắn mâu thuẫn để vợ chồng trở về chung sống. Điều đó chứng tỏ mục đích mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó việc chị Th xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc Th và anh Nguyễn Minh H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh Ch, sinh ngày 15/12/2016. Chị Th có nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Ch là con gái, cần sự nuôi dưỡng chăm sóc của mẹ. Chị Th hiện có công việc làm ổn định, anh H không có công việc làm nên cần giao cháu Ch cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc Th được ly hôn với anh Nguyễn Minh H.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Ngọc Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Ngọc Minh Ch, sinh ngày 15/12/2016.

Anh Nguyễn Minh H không phỉa cấp dưỡng nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được tr vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 1839 ngày 29/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (05/5/2022).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

22
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 71/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:71/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Duy Xuyên - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về