TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 68/2023/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2023 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P - Sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Bị đơn: Anh Trần Văn Tr - Sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/7/2023, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị và anh Tr kết hôn ngày 26/01/2015, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga Bạch cấp đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng luôn xảy ra bất đồng, không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, hai bên không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Tr theo quy định; về con: vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị Thanh H, sinh ngày 30/01/2016; Trần Minh Q, sinh ngày 28/3/2018 và Trần Thế A, sinh ngày 12/01/2020. Hiện tại các cháu đang ở cùng anh Tr. Sau ly hôn, chị đề nghị giao cả 03 cháu cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi cháu là 1.000.000đ/tháng. Về tài sản và nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trần Văn Tr trình bày: Về ngày tháng năm kết hôn, có sở kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian sống ly thân anh đồng ý như chị P trình bày. Chị P đề nghị ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí; về con: vợ chồng có 03 con chung như chị P trình bày. Hiện tại 03 cháu đang ở cùng anh. Nếu ly hôn, anh đồng ý trực tiếp nuôi cả 03 cháu; mức cấp dưỡng chị P đưa ra, anh đồng ý. Về tài sản: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt nguyên đơn nhưng chị P có đơn xin hòa giải vắng mặt; có mặt bị đơn nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với bị đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, chị P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Đối với bị đơn anh Tr có mặt, anh vẫn giữ nguyên nội dung trình bày; Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn xét xử vắng mặt chị P.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn đã thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, cho chị P được ly hôn anh Tr.Về con: Giao 03 cháu là Trần Thị Thanh H, sinh ngày 30/01/2016; Trần Minh Q, sinh ngày 28/3/2018 và Trần Thế A, sinh ngày 12/01/2020 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng; chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị P phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và ý kiến trình bày của bị đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Trần Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, không có tiếng nói chung.Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chị P yêu cầu ly hôn, anh Tr đồng ý. Xét cuộc sống chung của chị P và anh Tr đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P được ly hôn anh Tr là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về con: vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị Thanh H, sinh ngày 30/01/2016; Trần Minh Q, sinh ngày 28/3/2018 và Trần Thế A, sinh ngày 12/01/2020. Sau ly hôn, chị P đề nghị giao cả 03 con cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng; chị cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi cháu là 1.000.000đ/tháng. Đối với anh Tr, anh đồng ý trực tiếp nuôi cả 03 cháu và mức cấp dưỡng chị P thực hiện, mỗi cháu là 1.000.000đ/tháng.
Xét yêu cầu của các đương sự về việc giao con cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng. Qua xác minh tại UBND xã N thì các cháu đang sinh sống cùng anh Tr. Cháu H có nguyện vọng ở với bố. Để cuộc sống của các cháu được ổn định nên giao cả 03 cháu cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế.
* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/tháng/cháu; 03 cháu là 3.000.000đ/tháng.
[3] Về tài sản: Chị P, anh Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[4] Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, cho chị P được ly hôn anh Trần Văn Tr.
2. Về con: Giao các cháu Trần Thị Thanh H, sinh ngày 30/01/2016; Trần Minh Q, sinh ngày 28/3/2018 và Trần Thế A, sinh ngày 12/01/2020 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng; chị P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đ/tháng/cháu ; 03 cháu là 3.000.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 10/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ; tổng cộng là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0015250 ngày 14/7/2023 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị P còn phải nộp 300.000đ án phí DSST.
4. Quyền kháng cáo: Anh Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; chị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 68/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 68/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 27/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về