TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 65/2025/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2025 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 về viêc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn:
Bà Lê Thu Như Y, sinh năm 2000;
Căn cước số: 0833000062xx do Bộ C cấp ngày 17 tháng 3 năm 2025.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
2. Bị đơn:
Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1996;
Giấy chứng minh nhân dân số 3215838xx do Công an tỉnh B cấp ngày 05 tháng 9 năm 2017.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
(Bà Y có yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông B vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn bà Lê Thu Như Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thanh B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 25/10/2019. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Hiện bà và ông B đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng với ông B không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B, bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Có 03 con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N, sinh ngày 22/01/2020, Nguyễn Lê Ngọc Y, sinh ngày 26/3/2021 (hiện cháu N và cháu Y đang sống cùng ông B), Nguyễn Lê Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2022 (hiện cháu Q đang sống cùng bà Y). Sau khi ly hôn, bà Y giao quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N, sinh ngày 22/01/2020, Nguyễn Lê Ngọc Y, sinh ngày 26/3/2021 lại cho ông B; bà Y yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Lê Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2022 và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong qua trinh giai quyết vu an, bị đơn ông Nguyễn Thanh B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, còn bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thu Như Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B. Ghi nhận bà Y không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
+ Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con:
Ông Nguyễn Thanh B được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N, sinh ngày 22/01/2020 và Nguyễn Lê Ngọc Y, sinh ngày 26/3/2021, hiện cháu N và cháu Y đang sống cùng với ông B. Ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Bà Lê Thu Như Y được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Lê Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2022, hiện cháu Q đang sống cùng với bà Y. Ghi nhận bà Y không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí tuyên theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Thanh B là bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 (Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án của Quốc hội).
[3] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Thu Như Y có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Y là phù hợp.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng ông B không có mặt, vụ án không tiến hành mở phiên hòa giải được và tại phiên tòa ông B vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B là phù hợp.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Y thì sau khi kết hôn, bà và ông B chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Nay bà Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông B, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Y và ông B thực tế là có xảy ra và giữa hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Với khoảng thời gian trên cũng đủ cho ông bà suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng, thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập ông B để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông B không đến. Tại phiên tòa, ông B vẫn tiếp tục vắng mặt. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Y và ông B là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất nhằm đem lại tự do cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y đối với ông B là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4.2] Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Có 03 con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N, sinh ngày 22/01/2020, Nguyễn Lê Ngọc Y, sinh ngày 26/3/2021 (hiện cháu N và cháu Y đang sống cùng ông B), Nguyễn Lê Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2022 (hiện cháu Q đang sống cùng bà Y). Sau khi ly hôn, bà Y yêu cầu giao quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N và Nguyễn Lê Ngọc Y lại cho ông B và bà Y không cấp dưỡng nuôi con; bà Y yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Lê Ngọc Q, bà không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy cháu N và cháu Y từ trước đến nay sống cùng ông B, cháu Q từ trước đến nay sống cùng bà Y. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án, ông B cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với bà Y. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, lẫn tinh thần của các con chung, Hội đồng xét xử giao hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N và Nguyễn Lê Ngọc Y cho ông B tiếp tục nuôi dưỡng, ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến; giao con chung tên Nguyễn Lê Ngọc Q cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận bà Y không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y khai không có nên không xét đến.
[5] Về phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bà Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thu Như Y đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh B về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, cụ thể tuyên:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thu Như Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B. Ghi nhận bà Y không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
1.2. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con:
Ông Nguyễn Thanh B được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Lê Ngọc N, sinh ngày 22/01/2020 và Nguyễn Lê Ngọc Y, sinh ngày 26/3/2021, hiện cháu N và cháu Y đang sống cùng với ông B. Ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Bà Lê Thu Như Y được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Lê Ngọc Q, sinh ngày 26/8/2022, hiện cháu Q đang sống cùng với bà Y. Ghi nhận bà Y không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vi lơi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết đinh thay đôi ngươi trưc tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về nợ chung, tài sản chung: Bà Y khai không có nên không xét đến.
2. Về án phí: Bà Lê Thu Như Y phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000771 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Y đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2025
| Số hiệu: | 65/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mang Thít - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 24/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về