Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 64/2023/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 64/2023/HNGĐ-ST NGÀY 08/09/2023 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXX-ST, ngày 02 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa, số 53/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 24/8/2023, giữa:

1/ Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N - Sinh năm 2003 Địa chỉ: Thôn Phong P, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

2/ Bị đơn: Anh Mai Văn T - Sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn 1, xã Nga A, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/5/2023, bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày: chị và anh T kết hôn ngày 12/4/2021, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga An cấp đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống không hòa hợp, không hạnh phúc, không đồng quan điểm.Vợ chồng sống ly thân từ ngày 23 tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh T theo quy định; về con: vợ chồng có 01 con chung là Mai Văn C, sinh ngày 26/02/2021. Hiện tại cháu đang ở cùng bố và ông bà nội. Sau ly hôn, chị đề nghị được nuôi con; yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng; về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị đề nghị ngày 31/7/2023 chị N đề nghị giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Nếu anh T không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con, chị cũng đồng ý.

Đối với bị đơn anh Mai Văn T trình bày: về ngày tháng năm kết hôn, cơ sở của việc kết hôn anh thống nhất như ý kiến chị N. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì trong cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Chị N đề nghị ly hôn, anh không đồng ý; về con: vợ chồng có 01 con chung như chị N trình bày. Anh không đồng ý ly hôn, nhưng anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: anh không yêu cầu giải quyết.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh T vắng mặt, nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, chị N đề nghị được ly hôn anh T; về con: chị đề nghị để con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản: chị không yêu cầu giải quyết. Đối với bị đơn anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N, cho chị N được ly hôn anh Mai Văn T.

Về con: Giao cháu Mai Văn C, sinh ngày 26/02/2021, cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị N phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Mai Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau đến tháng 4 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn theo chị N trình bày: do trong cuộc sống không hòa hợp, không hạnh phúc, không đồng quan điểm, đã sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Đối với bị đơn anh T trình bày vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn, nhưng thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chị N yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý. Xét cuộc sống chung của chị N và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về con: vợ chồng có 01 con chung là Mai Văn C, sinh ngày 26/02/2021.Sau ly hôn, chị N đề nghị giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Đối với anh T, anh đề nghị được nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu của các đương sự về việc giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện. Qua xác minh tại UBND xã Nga An thì cháu C đang sinh sống cùng anh T. Để cuộc sống của cháu được ổn định nên chấp nhận đề nghị của các đương sự, giao cháu C cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

[3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N, cho chị N được ly hôn anh Mai Văn T.

2. Về con: Giao các cháu Mai Văn C, sinh ngày 26/02/2021 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0015205 ngày 15/5/2023 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị N đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

65
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 64/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:64/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về