Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 55/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2024/TLST-HN ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐST – HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh U, sinh năm 1997; Địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Cao Thanh P, sinh năm 1993; Địa chỉ ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chị U có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh U trình bày:

Chị và anh P quen biết tìm hiểu nhau trước khi kết hôn và có đăng ký kết hôn, được UBND xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2016. Vợ chồng sống hạnh phúc được 04 năm đến nay đã phát sinh mâu thuẫn do anh P ăn chơi, cờ bạc không lo làm ăn nuôi con, chị đã tha thứ nhiều lần nhưng anh P không bỏ được. Hiện nay, chị và anh P đã ly thân. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh P. Chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng giữa vợ và chồng cho chị, chị cũng không cấp dưỡng cho anh P.

- Về con chung: Vơ chồng co 01 con chung tên Cao Nguyễn Gia P1, sinh ngày 05/3/2019, con hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Nợ chung; Không có.

Bị đơn anh Cao Thanh P vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình vắng mặt trong những lần tòa mời.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh U, chị U được ly hôn với anh P; Con chung tên Cao Nguyễn Gia P1, sinh ngày 05/3/2019 chị U trực tiếp nuôi, anh P không cấp dưỡng nuôi con do chị U không yêu cầu. Tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xác nhận anh Cao Thanh P hiện có đăng ký thường trú tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Chị Nguyễn Thị Thanh U có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị U là phù hợp.

Anh Cao Thanh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P là phù hợp.

[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh U và anh Cao Thanh P kết hôn vào năm 2016, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M vào ngày 01/12/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị U, chị U cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do anh P ăn chơi, cờ bạc không lo làm ăn nuôi con, chị đã tha thứ nhiều lần nhưng anh Phú không bỏ được. Hiện nay, chị và anh P đã ly thân. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh P. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị U và anh P thì gia đình của chị U cho biết chị U và anh P có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, anh P không lo cho vợ con. Qua xác minh, chính quyền địa phương cho biết chị U và anh P mất hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Như vậy, giữa chị U và anh P mâu thuẫn là có thật. Anh P đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến để tham gia hòa giải, xét xử nhưng vẵn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến gì về việc chị U xin ly hôn, chứng tỏ anh P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị U và anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân giữa hai anh chị không đạt được đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhân yêu cầu của chị U là phù hợp.

[4] Về con chung: Chị U và anh P có 01 con chung tên Cao Nguyễn Gia P1, sinh ngày 05/3/2019, hiện đang sống với chị U. Xét thấy, hiện nay cháu P1 đang sống với chị U nên để đảm bảo về mặt tinh thần và thể chất cho cháu P1 Hội đồng xét xử giao cháu P1 cho chị U nuôi là phù hợp. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị U không yêu cầu.

[5] Về tài sản chung: Chị U trình bày không có không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị U trình bày không có nên không xem xét.

[7] Án phí :

Án phí ly hôn: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên chị U phải chịu án phí theo qui định là 300.000 đồng.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh U.

Chị Nguyễn Thị Thanh U được ly hôn với anh Cao Thanh P.

2. Về con chung: Chị U trực tiếp nuôi 01 con chung tên Cao Nguyễn Gia P1, sinh ngày 05/3/2019, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị U không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84, điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị U trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị U trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí:

Chị Nguyễn Thị Thanh U phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003067 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên không phải nộp thêm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 55/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:55/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về