TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 53/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXX-ST, ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T1 - Sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn 4 H, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
2/ Bị đơn: Anh Mai Văn H2 - Sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn 4 H, xã N, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30/7/2024, bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Thị T1 trình bày: chị và anh Mai Văn H2 kết hôn với nhau vào ngày 27/9/2010, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã N cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình trái ngược, đời sống chung không thể hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 11/5/2024 cho đến nay. Để mỗi bên sớm ổn định cuộc sống, chị đề nghị ly hôn anh H2 theo quy định. Về con: vợ chồng có 02 con chung là Mai Thế H3, sinh ngày 17/02/2011 và Mai Thảo V2, sinh ngày 13/02/2013. Hiện tại hai cháu đang ở cùng anh H2. Sau ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu Thảo V2; giao cháu H3 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Mai Văn H2 trình bày: về hôn nhân chị T1 yêu cầu giải quyết ly hôn, đó là việc của chị T1, anh không đồng ý ly hôn; về con: vợ chồng có 02 con chung như chị T1 trình bày. Hiện tại hai cháu đang ở cùng anh. Nếu chị T1 vẫn cương quyết ly hôn, anh đề nghị được nuôi cả 02 con; yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng anh đề nghị là 2.000.000đ/cháu/tháng (02 cháu= 4.000.000đ/tháng). Về tài sản: anh không yêu cầu giải quyết.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh H2 vắng mặt, nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Toà án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, chị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu; anh H2 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh H2.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện các quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T1, cho chị T1 được ly hôn anh H2. Về con: giao cháu Mai Thảo V2, sinh ngày 13/02/2013 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Mai Thế H3, sinh ngày 17/02/2011 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng; Chị T1, anh H2 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị T1 phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T1 và anh Mai Văn H2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị T1 trình bày là do bất đồng quan điểm sống, tính tình trái ngược nhau, đời sống chung không thể hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Chị T1 đề nghị ly hôn, anh H2 không đồng ý. Xét thấy vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T1, cho chị T1 được ly hôn anh H2 là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Mai Thế H3, sinh ngày 17/02/2011 và Mai Thảo V2, sinh ngày 13/02/2013. Sau ly hôn chị T1 đề nghị nuôi cháu V2; giao cháu H3 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với anh H2, anh đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con; yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu là 2.000.000đ/tháng, 02 cháu là 4.000.000đ/tháng.
Xét yêu cầu của chị T1 và anh H2 về việc được trực tiếp nuôi con là hoàn toàn thực tế. Qua xác minh tại UBND xã N thì hai cháu H3 và V2 đang ở cùng anh H2, các cháu đều có nguyện vọng ở cùng bố. Để cha, mẹ đều có trách nhiệm trong việc chăm sóc nuôi dưỡng các cháu nên giao cháu V2 cho chị T1 nuôi dưỡng, giao cháu H3 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T1, anh H2 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản và nợ chung: Chị T1, anh H2 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[4] Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí DSST về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T1, cho chị T1 được ly hôn anh Mai Văn H2.
2. Về con: Giao cháu Mai Thảo V2, sinh ngày 13/02/2013 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Mai Thế H3, sinh ngày 17/02/2011 cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T1, anh H2 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị T1 phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu, ký hiệu BLTU/23, số 0005409, ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị T1 đã nộp đủ án phí DSST.
4. Quyền kháng cáo: Chị T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh H2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 53/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 53/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 25/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về