Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 51/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 51/2021/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 155/2021/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Yến L, sinh năm 2001 (có mặt) Địa chỉ: Ấp T xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Chổ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Thạch T, sinh năm 1998 (có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18/6/2021, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Yến L trình bày:

Chị và anh Thạch T tự nguyện kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/10/2020; chị và anh T có 01 con chung tên Thạch Dương Bảo D, sinh ngày 23/4/2017. Thời gian đầu chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 01 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, nên không còn chung sống cho đến nay; hiện cháu D đang sống với chị L; tài sản chung tự thỏa thuận; nợ chung không có.

Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh T; chị xin nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung tự thỏa thuận; nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án,cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Thạch T trình bày:

Về thời gian chung sống và kết hôn, con chung và mâu thuẫn đúng như chị L trình bày; anh T không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, con; nhưng tại phiên tòa anh T đồng ý ly hôn; đồng ý giao con cho chị L nuôi, anh không cấp dưỡng; tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con, nên quan hệ pháp luật điều chỉnh là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền giải quyết:

Xét thấy nguyên đơn khởi kiện bị đơn Thạch T đang cư trú ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Về nội dung:

[1] Xét thấy chị L và anh Thạch T tự nguyện kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/10/2020, phù hợp theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.

Thời gian đầu chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 01 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, nên không còn chung sống cho đến nay. Tại phiên tòa chị L cương quyết xin ly hôn; anh T cũng đồng ý ly hôn; do đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị L đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cho ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung tên Thạch Dương Bảo D, sinh ngày 23/4/2017. Chị L xin được nuôi con; anh T đồng ý giao con cho chị L nuôi; căn cứ khoản 1, 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, nên giao con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho anh T theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.

Chị Linh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Chị L và anh T không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. [4] Về nợ chung: Chị L và anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên chị Linh phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình.

[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tung dân sự.

- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Yến L và anh Thạch T.

- Về con chung: Giao cháu tên Thạch Dương Bảo Duy, sinh ngày 23/4/2017 cho chị Dương Yến L chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con cho anh Thạch T.

Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị L và anh T không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị L và anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009507 ngày 14/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 51/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:51/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về