TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 50/2024/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Phương V, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số A, Kênh C, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Trà Thanh T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
(Chị V yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lương Phương V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T kết hôn năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ngày 31-3-2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hiểu và thông cảm cho nhau, từ tháng 12-2023 vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Chị V nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Thời gian chung sống, chị V và anh T có con chung tên Trà Như Ý, sinh ngày 25-4-2019. Cháu Ý hiện đang sống cùng với chị V. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Trà Thanh T:
Anh T đã được cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của chị V.
- Tại Văn bản số: 269/VHTT ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện C:
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện C không có ý kiến về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, yêu cầu nuôi con chung giữa chị V, anh T. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt các phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, cụ thể: Chị V được ly hôn với anh T. Giao con chung tên Trà Như Y, sinh ngày 25-4-2019 cho chị V nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị V không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, chị V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, anh T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Lương Phương V khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Trà Thanh T. Anh Trà Thanh T cư trú tại ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Chị V yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, chị V yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48/2018 ngày 31-3-2018. Tại thời điểm kết hôn, chị V, anh T đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa chị V, anh T được pháp luật công nhận.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị V, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị V, anh T chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không còn hiểu, thông cảm cho nhau, từ tháng 12-2023 anh, chị không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị V, anh T tham gia phiên hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không hòa giải đoàn tụ được. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị V yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về con chung: Theo Giấy khai sinh số: 224-2019, đăng ký ngày 13-5-2019 tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Chị V, anh T có con chung tên Trà Như Ý (giới tính: Nữ), sinh ngày 25-4-2019. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi. Anh T không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị V. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện đang sống cùng chị V, cuộc sống đã ổn định, anh T không có ý kiến đối với yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị V. Để đảm bảo cuộc sống của con chung được ổn định, cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, giao con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Như vậy, yêu cầu về con chung của chị V là có căn cứ chấp nhận.
[6] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 1 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, anh T là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với chị V. Đồng thời, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, anh T là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị V không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Chị V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[9] Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[10] Về án phí sơ thẩm: Chị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.
[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Phương V được ly hôn với anh Trà Thanh T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trà Như Ý (giới tính: Nữ), sinh ngày 25-4-2019 cho chị Lương Phương V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Trà Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Lương Phương V không yêu cầu anh Trà Thanh T phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Phương V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh Trà Thanh T không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Phương V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0005098 ngày 11-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Chị Lương Phương V đã nộp xong án phí sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 50/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 50/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 04/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về