TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
BẢN ÁN 46/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị U; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn Nam Lân 2, xã Y Tịch, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Văn T; nơi cư trú: Thôn 2, xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 21 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị U trình bày:
Chị Hồ Thị U kết hôn với anh Trần Văn T trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/7/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp, cuộc sống chung không thống nhất, anh T thiếu tôn trọng chị U nên vợ chồng xảy ra cãi mắng nhau, anh T có lần còn chửi bới, xúc phạm và đánh chị U. Do mâu thuẫn chị U đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh T từ cuối năm 2021. Mâu thuẫn giữa chị và anh T đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị U nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T. Chị U và anh Trần Văn T có 01 con chung tên Trần Anh T2, sinh ngày 05/9/2016. Khi ly hôn chị U đồng ý để anh T trực tiếp nuôi con chung như hiện nay. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị và anh T tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28 tháng 02 năm 2024 bị đơn anh Trần Văn T trình bày:
Anh T kết hôn với chị Hồ Thị U trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã L vào ngày 25/7/2016. Anh và chị U chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi mắng nhau. Hiện anh và chị U đã sống ly thân và không còn tình cảm nên anh T đồng ý ly hôn chị U. Anh và chị U có 01 con chung tên Trần Anh T2, sinh ngày 05/9/2016. Khi ly hôn anh T xin được trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh và chị U tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh và chị U không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T. Giao con chung tên Trần Anh T2, sinh ngày 05/9/2016 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung các đương sự không yêu cầu nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Chị Hồ Thị U phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Giấy trích lục kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; xác nhận thông tin về cư trú; Đơn đề nghị nguyện vọng của con chung; Bản tự khai; Biên bản lấy lời khai; Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn T cư trú tại xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hồ Thị U và bị đơn là anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T.
[2] Về hôn nhân: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/7/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, căng thẳng vào năm 2021. Theo tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng chị U, anh T đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị U và anh T hiện đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Chị U xin ly hôn, anh T đồng ý. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Hồ Thị U được ly hôn anh Trần Văn T.
[3] Về con chung: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T có 01 con chung tên Trần Anh T2, sinh ngày 05/9/2016. Xét hiện nay anh T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dạy con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, chị U cũng đồng ý giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay để anh T trực tiếp nuôi con chung nên Hội đồng xét xử giao con chung cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với nguyện vọng của con chung và các quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hồ Thị U phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T 2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Anh T2, sinh ngày 05/9/2016 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T tự thoả thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về án phí: Chị Hồ Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009741 ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên. Chị Hồ Thị U đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị U và anh Trần Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 46/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 46/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 25/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về