TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 39/2024/HNGĐ-ST NGÀY 07/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị L Trần Minh T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Sơn L1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
(Chị T, anh L1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L Trần Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh L1 tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị T và anh L1 đã không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2019 cho đến nay. Chị T nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1.
Về con chung: Thời gian chung sống, chị T và anh L1 có con chung tên Huỳnh Lý Trần Minh T1, sinh ngày 04-6-2014 và Huỳnh Minh T2, sinh ngày 05- 3-2019. Các con chung hiện đang sống cùng với chị T. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
- Tại đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt ngày 19 tháng 7 năm 2024, bị đơn anh Huỳnh Sơn L1 trình bày:
Anh L1 đồng ý ly hôn với chị T, đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng và không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung.
- Tại Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 27 tháng 5 năm 2024, cháu Huỳnh Lý Trần Minh T1 trình bày:
Cháu T1 hiện đang sống cùng với chị T tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Cháu T1 có nguyện vọng được sống cùng với chị T.
- Tại văn bản số: 141/VHTT ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện C:
Phòng Văn hóa và Thông tin không có kiến nghị về hoàn cảnh gia đình và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị T và anh L1. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T, cụ thể: Chị T được ly hôn với anh L1; giao con chung tên Huỳnh Lý Trần Minh T1, sinh ngày 04-6-2014 và Huỳnh Minh T2, sinh ngày 05-3-2019 cho chị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết. Chị T trình bày không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết; anh L1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Lý Trần Minh T3 khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Huỳnh Sơn L1. Anh L1 cư trú tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T3 và anh L1 vắng mặt. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T3 và anh L1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị T3, anh L1 tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 69/2013, quyển số 01/2013, ngày 11-10-2013. Tại thời điểm kết hôn, chị T3, anh L1 đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 9, Điều 11 và Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T3, anh L1 được pháp luật công nhận.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị T3, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị T3 và anh Lâm c sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau và làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2019 và anh L1 không mong muốn hàn gắn tình cảm, đồng ý ly hôn với chị T3. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T3, anh L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T3 yêu cầu được ly hôn với anh L1 là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về con chung: Theo Giấy khai sinh số: 122/2014, quyển số: 01/2014, đăng ký ngày 30-6-2014 và Giấy khai sinh số: 185, đăng ký ngày 13-3-2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thể hiện chị T3, anh L1 có 02 (hai) con chung tên Huỳnh Lý Trần Minh T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 04-6-2014 và Huỳnh Minh T2 (giới tính: Nam), sinh ngày 05-3-2019. Chị T3 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và anh L1 đồng ý với yêu cầu này của chị T3. Như vậy, giữa chị T3, anh L1 đã thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, sự thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung nên được chấp nhận.
[6] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 1 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định viện dẫn, anh L1 là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với chị T3. Đồng thời, anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tại Khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định viện dẫn, anh L1 là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, chị T3 không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T3 trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh L1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[9] Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[10] Chị T3 là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
[11] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị L Trần Minh T3 được ly hôn với anh Huỳnh Sơn L1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Lý Trần Minh T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 04-6-2014 và Huỳnh Minh T2 (giới tính: Nam), sinh ngày 05-3- 2019 cho chị L Trần Minh T3 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Huỳnh Sơn L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L Trần Minh T3 không yêu cầu anh Huỳnh Sơn L1 phải cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lý Trần Minh T3 trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Anh Huỳnh Sơn L1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Lý Trần Minh T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0000919 ngày 25-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Chị Lý Trần Minh T3 đã nộp xong án phí sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 39/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 39/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 07/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về