Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 37/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 37/2024/HNGĐ-ST NGÀY 24/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Y, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn An T, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương

- Bị đơn: Anh Đồng Văn H, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn An T, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương (Chị Y3, anh H5 vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phùng Thị Y trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Y và anh Đồng Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 27/10/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại Quảng Ninh đến năm 2018 thì chuyển về Tứ Kỳ sinh sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp, anh H5 không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả, vợ chồng không có tiếng nói chung nên mỗi lần nói chuyện thường xẩy ra cãi nhau. Do mâu thuẫn không được khắc phục nên ngày càng trầm trọng, chị Y3 bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh H5 cũng không đến tìm chị để nói chuyện, vợ chồng sống ly thân khoảng 03 năm nay. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H5 không còn nên có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Tứ Kỳ giải quyết cho chị được ly hôn anh H5.

+ Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Đồng Văn H, sinh ngày 27/10/2004 và cháu Đồng Văn P, sinh ngày 24/01/2007. Hiện nau cháu Hoàng đã trưởng thành chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu P4 đang ở với chị Y3, khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cáu Phúc và không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Y3 hiện làm công nhận giầy da, thu nhập khoảng 5-7 triệu đồng/ tháng, có nhà riêng xây trên đất của bố mẹ đẻ cho. Chị xác định chị đủ điều kiện để nuôi dưỡng con.

+ Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Biên bản lấy lời khai bà Phạm Thị Liên (mẹ anh H5) thể hiện: Bà Liên xác định về điều kiện, thời gian kết hôn, con chung, quá trình vợ chồng sinh sống tại Quảng Ninh như chị Y3 trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh chị không bảo ban được con cái dẫn đến mâu thuẫn, chị Y3 tự ý bỏ về nhà đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân hơn 02 năm nay không ai quan tâm đến ai. Nay anh chị có tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc nên đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của chị Y3, anh H5 đồng ý ly hôn chị Y3.

Các văn bản do Tòa án gửi bà đã nhận và đã giao, thông báo cho anh H5 biết, anh H5 cũng đã biết được yêu cầu khởi kiện của chị Y3 và đề nghị giải quyết theo đề nghị của chị, anh không có ý kiến gì. Về con chung, một con đã trưởng thành còn một con chưa trưởng thành, chị Y3 muốn nuôi con chưa trưởng thành thì anh cũng đồng ý. Do bận công việc không thể đến Tòa án làm việc được nên anh H5 có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

- Biên bản xác minh tại UBND xã Nguyên Giáp thể hiện: Anh Đồng Văn H và chị Phùng Thị Y là công dân sinh sống tại địa phương, anh chị không đăng ký kết hôn ở địa phương mà đăng ký kết hôn ở nơi khác. Năm 2018 anh chị về địa phương sinh sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị Y3 bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Do anh chị không sinh hoạt Hội, Đoàn thể nào ở địa phương nên khi vợ chồng mâu thuẫn không nhờ địa phương can thiệp. Nay chị Y3 có đơn xin ly hôn anh H5, đề nghị giải quyết theo quy định. Về con chung, anh chị có 02 con chung như chị Y3 trình bày, khi anh chị ly hôn đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của các con.

Tại phiên toà:

- Chị Phùng Thị Y vì lý do công việc nên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H5, đề nghị giao con chung là cháu Đồng Văn P cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc và không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Y3 được ly hôn anh Đồng Văn H. Về con chung: Giao cháu Đồng Văn P, sinh ngày 24/01/2007 cho chị Y3 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Y3 về việc không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H5 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Y3 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phùng Thị Y có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung giữa chị và anh Đồng Văn H, tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án anh H5 cư trú tại thôn An T, xã Nguyên G, huyện Tứ K. Do đó, TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Y3, anh H5 đã nhận, được thông báo về Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chị Y3 có đề nghị xét xử vắng mặt, anh H5 được triệu tập hợp lệ 02 lần vắng không có lý do. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Y3, anh H5 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Y và anh Đồng Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Yên, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 27/10/2003 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian dài thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm. Đến nay chị Y3 xác định tình cảm vợ chồng không còn nên có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H5. Anh H5 đã biết được việc chị Y3 đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, đã nhận, được thông báo về các văn bản do Tòa án gửi và có quan điểm đồng ý ly hôn chị Y3. Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng chị Y3 và anh H5 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Y3, xử cho chị Y3 được ly hôn anh H5 là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Đồng Văn H, sinh ngày 27/10/2004 và cháu Đồng Văn P, sinh ngày 24/01/2007. Hiện các con đang ở với chị Y3, cháu Hoàng đã trường thành nên không đặt ra xem xét giải quyết, còn cháu P4 chưa trưởng thành. Khi ly hôn chị Y3 có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu P4 và không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng nuôi con, cháu P4 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, anh H5 đồng ý để chị Y3 nuôi cháu P4 nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Y3, giao cháu P4 cho chị Y3 chăm sóc, nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị Y3 về việc không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H5 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, công nợ: Chị Y3 không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Anh H5 không có quan điểm nên sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị Y3 phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị Y được ly hôn anh Đồng Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Đồng Văn P, sinh ngày 24/01/2007 cho chị Phùng Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Y3 không yêu cầu anh H5 phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung Anh Đồng Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phùng Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân gia đình được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004870 ngày 05/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Chị Y3 đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 37/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:37/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tứ Kỳ - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về